Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam bước vào giai đoạn kiến thiết trong muôn vàn khó khăn. Cho đến những năm 1980, tình hình càng trở nên ngặt nghèo hơn khi nước ta đổi mặt với 3 thách thức lớn.
Đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, lạm phát lên tới gần 800% năm 1986; đất nước bị bao vây về chính trị, cấm vận về kinh tế trong khi các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, vốn là nguồn cung cấp tài trợ cho nước ta đều theo nhau rơi vào khủng hoảng và năm 1991 Liên Xô tan rã, Hội đồng tương trợ kinh tế và Hiệp ước Vacsava giải thể. Mà theo lời của cố Phó Thủ tướng Vũ Khoan, đây là "tình trạng ngàn cân treo sợi tóc, đặt ra yêu cầu đổi mới hay là chết!".
Giữa tình cảnh đó, Đại hội VI của Đảng đã tạo ra bước ngoặt lịch sử, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, coi trọng sản xuất hàng hóa và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Mục tiêu đặt ra tại Đại hội là "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển".
Như vậy, Đảng và Nhà nước đã đổi mới tư duy, hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Ông Lương kể lại, câu nói của cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger: "Nếu chúng ta không thắng Việt Nam trong chiến tranh thì phải thắng khi hòa bình" đã gieo trong lòng nhiều người Việt sự nghi ngại, khiến không ít ý kiến cho rằng BTA chỉ là "một âm mưu của Mỹ". Hay lại có người quy cho việc tiến hành thỏa thuận này chính là "tội rước Mỹ vào phá Chủ nghĩa Xã hội".
"Khi ấy, chúng ta gần như không biết gì về Mỹ. Thông tin khan hiếm, mọi thứ đều quá xa vời. Về pháp luật thì chúng ta vừa thiếu, vừa khác biệt lớn với Mỹ, trong khi số người Việt am hiểu luật Mỹ chỉ đếm trên đầu ngón tay", ông nói.
Bức tranh so sánh kinh tế lúc đó càng cho thấy khoảng cách khổng lồ: GDP Việt Nam mới chỉ khoảng 33 tỷ USD, trong khi Mỹ đã vượt 10.000 tỷ USD. Ở Việt Nam, 70% dân số sống ở nông thôn, gắn với cái cày, cái cuốc, con trâu. Lúc đó, Việt Nam thậm chí chưa có nổi 1km đường cao tốc.
Còn ở Mỹ, chỉ 2% dân số làm nông nghiệp (1% trực tiếp), nhưng sở hữu nền nông nghiệp hiện đại bậc nhất thế giới: lúa mì và bông chiếm 28% thị trường toàn cầu, đậu tương và ngô chiếm tới 57–58%.
Ở phía bên kia, Mỹ cũng không dễ dàng hơn. Trước khi khởi động đàm phán, họ đã tổ chức nhiều hội thảo, mời các chuyên gia hàng đầu phân tích về Việt Nam. Thế nhưng, ngay cả các chuyên gia Mỹ cũng mù mờ, không nắm rõ nền kinh tế Việt Nam ra sao, lợi thế là gì. Sự thiếu thông tin từ cả hai phía đã khiến bước khởi đầu của quá trình đàm phán đầy những khoảng trống và hoài nghi.

Ông Nguyễn Đình Lương – Nguyên Trưởng đoàn Đàm phán BTA (Ảnh: Hải Long).
Theo ông Nguyễn Đình Lương, nền tảng đàm phán khi ấy dựa trên khung pháp lý và nguyên tắc của theo tiêu chuẩn quốc tế, thậm chí là những tiêu chuẩn cao nhất lúc bấy giờ.
Các nguyên tắc như công khai, minh bạch, bình đẳng không phân biệt đối xử giữa hàng hóa nội – ngoại, giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước… là những yêu cầu hoàn toàn mới, thách thức một nền kinh tế vừa rời khỏi bao cấp.
Rõ ràng, đây là một cuộc đàm phán vô cùng khó khăn đối với Việt Nam. Các nội dung được đặt lên bàn không chỉ đơn thuần là thương mại, mà còn chạm tới cả quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những cam kết đó buộc chúng ta phải đối diện với sự thay đổi sâu rộng, va chạm đến toàn bộ hệ thống pháp luật khi ấy.

Đặc biệt, khi nhắc đến câu chuyện về ông Bill Clinton - Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, ông Lương bất giác đặt tay lên ngực và từ từ kể lại về "nỗi đau" trong quá trình đàm phán BTA.
Hôm đó, tại một buổi hội thảo về BTA, ông đã bày tỏ ý kiến riêng của mình về Tổng thống Bill Clinton: "Tôi đề nghị nên tranh thủ ký thỏa thuận trong thời Tổng thống Bill Clinton chưa có Tổng thống nào đối xử với Việt Nam tốt hơn Bill Clinton trong lịch sử quan hệ Việt – Mỹ ", rồi đưa ra những dẫn chứng. Và ông Lương nhận được ngay nhận xét: "Lập trường giai cấp mơ hồ. Đã là trùm đế quốc thì làm gì có chuyện tốt với Việt Nam?".
Trưởng đoàn đàm phán BTA chia sẻ, ông biết câu nói đó là bình thường với nhận thức chung thời điểm ấy. Thế nhưng, điều khiến ông Lương buồn là "cuộc hội thảo đó thành công cốc bởi không ai lại muốn mình có "lập trường giai cấp mơ hồ" cả".
Tuy nhiên, trước những khoảng cách tưởng chừng không thể san lấp ấy, đoàn đàm phán Việt Nam chọn cách đi "chậm mà chắc".
"Chúng ta phải vừa học vừa đàm phán, vừa sửa luật trong nước để tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Không thể đòi hỏi mọi thứ thay đổi trong một sớm một chiều", ông Lương nói.
Đó cũng chính là triết lý giúp Việt Nam đứng vững trước đối tác có tiềm lực áp đảo. Mỗi vòng đàm phán không chỉ là trao đổi với Mỹ, mà còn là cuộc tự điều chỉnh trong nước. Như lời ông Lương, đó là "hành trình vừa đàm phán với người khác, vừa đàm phán với chính mình".
Sau gần 5 năm đàm phán căng thẳng, trải qua hàng chục vòng thương thảo cùng vô số bản dự thảo, văn kiện và thỏa thuận trung gian, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết vào ngày 13/7/2000, có hiệu lực từ cuối năm 2001.
Ngay sau khi Hiệp định được ký kết, Quốc hội khóa 2001-2005 đã phải xây dựng mới, sửa đổi và bổ sung tới 137 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết để từng bước đưa hệ thống pháp luật Việt Nam tiệm cận với "luật chơi" của WTO và chuẩn mực quốc tế. Hàng loạt đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ… được ban hành hoặc chỉnh sửa.

Khác với BTA, lúc này Việt Nam và WTO không đàm phán việc xây dựng pháp lý nữa, vì Việt Nam xin gia nhập WTO thì mặc nhiên phải chấp nhận và chấp hành mọi quy định của Tổ chức. Do đó, cuộc đàm phán WTO thực chất là một cuộc tổng rà soát lại tất cả luật lệ của Việt Nam, còn chỗ nào ngược với WTO thì sửa đổi.
Tuy nhiên, phải đến nhiều năm sau, khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập qua APEC, ASEM, ASEAN…, đồng thời khẩn trương xây dựng và sửa đổi hàng loạt bộ luật cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tiến trình đàm phán WTO mới có chuyển biến rõ rệt.
Đây là một trong những cuộc đàm phán dài nhất lịch sử WTO, đoàn đàm phán Việt Nam do nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự dẫn dắt, thường xuyên nhận được sự chỉ đạo trực tiếp từ lãnh đạo Chính phủ, cùng sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế, kể cả nguyên Tổng Giám đốc GATT Arthur Dunkel.
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam đang là nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế nước ta trong quá trình chuyển đổi từ quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường. Vì vậy, chủ yếu chúng ta vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp, xuất khẩu gạo, cà phê, điều, thủy sản… trình độ sản xuất thấp, phân tán và còn nhỏ lẻ.

Mặt khác những mặt hàng này cũng có những rủi ro do thiên tai gây ra, nên Nhà nước vẫn phải có hình thức "trợ giá" nông sản. Đây là một trong những vấn đề mà hầu hết các đối tác trong quá trình đàm phán song phương đều "nâng lên đặt xuống" với lo ngại nông sản Việt Nam sẽ "tràn" vào thị trường của họ.
Đặc biệt, có những cuộc đàm phán song phương với Mỹ, Liên minh châu Âu hay Trung Quốc luôn căng thẳng, xoay quanh biểu thuế, dịch vụ ngân hàng – tài chính, viễn thông… Có nước chỉ mất ba phiên để kết thúc, nhưng cũng có đối tác khiến Việt Nam phải kéo dài tới 13 phiên.
Đến cuối năm 2005, Việt Nam vẫn chưa được vào WTO khiến nhiều người lo lắng và cho rằng chiến thuật đàm phán sai lầm.
Bên hành lang Quốc hội khi đó, cố Phó thủ tướng Vũ Khoan cho biết Việt Nam cố gắng tối đa nhưng không phải bằng mọi giá để vào WTO. Việt Nam không thể chấp nhận những việc không làm được và những điều có khả năng làm đổ vỡ nền kinh tế, chỉ chấp nhận những cam kết có thể thực thi.
"Đàm phán với một nước đã mỏi mệt, với 28 nước càng không dễ. Khi mình muốn đàm phán thì anh này bận, anh kia lại bảo tôi không có thì giờ", ông kể.
Năm 2006, sau nhiều nỗ lực không ngừng nghỉ để hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ, Việt Nam hoàn tất đàm phán gia nhập WTO, mở cánh cổng lớn để hội nhập với thế giới.

Trong đó, ngành dệt may nổi lên như một biểu tượng bứt phá, đạt kim ngạch 44 tỷ USD năm 2024, tăng 11% so với năm trước, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ hai toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc và vượt Bangladesh.
Cơ cấu xuất khẩu cũng thay đổi căn bản: từ chỗ chủ yếu dựa vào nông – thủy sản, nay các sản phẩm công nghiệp chế biến, công nghệ cao như điện thoại, linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị đã trở thành nhóm hàng chủ lực, gắn Việt Nam vào sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Không chỉ thương mại, Việt Nam còn trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn đầu tư quốc tế. Tính đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 42.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 503 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 322,5 tỷ USD. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, LG, Foxconn… đã tạo động lực lan tỏa cho công nghiệp phụ trợ, chuyển giao công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp trong nước.
Về nông nghiệp, Việt Nam đã vươn lên thành cường quốc nông sản, có mặt trên hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả các thị trường khó tính. Việt Nam đứng trong nhóm ba nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai, hạt điều chiếm trên 50% tổng xuất khẩu toàn cầu, hồ tiêu chiếm 40% sản lượng thế giới, trong khi thủy sản liên tục đạt giá trị xuất khẩu cao.




Từ vị trí ngặt nghèo, đến nay Việt Nam đã vươn lên vị thế một trong những nền kinh tế tăng trưởng năng động hàng đầu thế giới. GDP của Việt Nam từ khoảng 8,2 tỷ USD năm 1986 đã tăng lên trên 476 tỷ USD năm 2024, gấp gần 60 lần. Mức tăng trưởng này đưa Việt Nam vào nhóm những nền kinh tế có tốc độ phát triển ấn tượng hàng đầu trong nhiều thập kỷ qua. Từ vị trí cuối bảng thời điểm mới gia nhập ASEAN (năm 1995), sau 30 năm, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 trong khối (năm 2024).
Nhìn lại chặng đường từ BTA đến WTO, từ những bước đi đầu tiên trong hội nhập đến vị thế ngày nay, có thể thấy mỗi thành quả đều được trả giá bằng nỗ lực bền bỉ và trí tuệ tập thể. Nhưng quan trọng hơn, đó không chỉ là những mốc son ở quá khứ, mà còn là bàn đạp để mở ra tương lai.
Bước sang kỷ nguyên mới, chúng ta càng thêm tin tưởng về khát vọng một Việt Nam công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đó không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là khát vọng vươn tầm dân tộc, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong dòng chảy toàn cầu hóa.

Thực hiện: Thanh Loan
Thiết kế: Quỳnh Chi
Hình ảnh: Hải Long
NGUOIDUATIN.VN | Thứ Ba, 30/9/2025 | 08:00
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/nhung-dau-chan-mo-loi-dua-kinh-te-viet-nam-hoi-nhap-toan-cau-a234022.html