
Ông Nguyễn Tuấn Kiệt sau khi trở về từ chuồng cọp Côn Đảo tiếp tục hoạt động cách mạng, năm 1970
Từ những giai điệu xuống đường rực lửa sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đến ý chí sắt đá giữa "địa ngục trần gian" Côn Đảo, ông đã dùng âm nhạc để thắp lửa phong trào, dùng chính cuộc đời mình để góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc và là minh chứng sống động: Khi âm nhạc hòa quyện cùng lòng yêu nước, nó trở thành sức mạnh vô song vượt qua mọi gông cùm.
Ám ảnh napalm và sứ mệnh giữ hồn dân tộcÔng Nguyễn Tuấn Kiệt sinh năm 1947, tại Gò Vấp, Gia Định. Lớn lên trong lòng đô thị miền Nam, ông đã tận mắt chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và sự xâm lăng văn hóa - nơi những giá trị truyền thống dân tộc dần bị xói mòn bởi lối sống thực dụng ngoại bang. Bước ngoặt lớn nhất khiến lòng yêu nước trong ông bùng cháy chính là đêm Noel năm 1966. Giữa dòng người đông đúc trên đường Lê Lợi, chàng thanh niên Nguyễn Tuấn Kiệt bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ với thân thể loang lổ vết cháy do bom napalm, tay ôm đứa con nhỏ ngồi xin ăn. Hình ảnh đầy ám ảnh đó đã dấy lên trong ông lòng căm thù tột độ đối với những kẻ đang giày xéo quê hương, thúc đẩy ông dấn thân vào con đường cách mạng.
Năm học 1966-1967, tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, một trong những cái nôi của phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở miền Nam, ông gia nhập nhóm Nghiên cứu Triết học… Trong những buổi thảo luận về triết học và văn hóa, ông nhận ra rằng: Muốn cứu nước, trước hết phải bảo vệ linh hồn của dân tộc – đó chính là Văn hóa. Những giai điệu đầu tiên được viết ra không phải để giải trí mà nung nấu tinh thần tự tôn, kêu gọi giới trẻ Sài Gòn nhìn thẳng vào nỗi đau của đất nước để hành động, lấy âm nhạc lay động trái tim con người. Trong môi trường đại học, ông đã tìm thấy những tâm hồn đồng điệu như Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Xuân Tân và tiếp nối là Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, Trần Xuân Tiến... và chính thức bước vào hàng ngũ những người chiến sĩ văn hóa, dùng âm nhạc làm phương tiện để bồi đắp tinh thần yêu nước trong giới trẻ giữa lòng đô thị.
Từ "Tin tưởng ca" trong lửa đạn Mậu Thân...Nhắc đến Nguyễn Tuấn Kiệt là nhắc đến "Tin tưởng ca", "Ước vọng ca"- những bài hát tiêu biểu của phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe". Đặc biệt bài hát "Tin tưởng ca" ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt vào buổi sáng sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 bùng nổ.
Khi ra đường để nắm tình hình, tại dốc cầu Thị Nghè, ông Kiệt đau lòng nhìn thấy một chiến sĩ biệt động vừa hy sinh ngay cửa ngõ thành phố. Ngay sau đó, khi đang di chuyển trên chiếc xe Mobylette qua đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sỹ), cả nhạc và lời của bài "Tin tưởng ca" bất ngờ tuôn trào trong đầu ông chỉ trong tích tắc. Về đến nhà, ông chép lại toàn bộ mà không cần sửa đổi một nốt nhạc hay một từ ngữ nào.
Bài hát không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn là tiếng lòng của cả một dân tộc đang chiến đấu can trường để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến ngày toàn thắng: "Rồi hòa bình sẽ đến, đến với dân tộc Việt/ Đôi chim bồ câu trắng hẹn nhau về làng xưa…". "Tin tưởng ca" đã góp mặt trong các bài hát tiêu biểu vượt ra khỏi khuôn khổ của giảng đường Văn khoa, lan tỏa vào các chiến khu, vang lên trong các cuộc biểu tình xuống đường và trở thành "vũ khí tinh thần" sắc bén, khẳng định một chân lý: Bom đạn không bao giờ dập tắt được niềm tin, niềm hy vọng mãnh liệt của dân tộc Việt Nam vào chiến thắng cuối cùng của cuộc kháng chiến.
... đến "Niềm tin" giữa "địa ngục trần gian"Tháng 10/1968, do tham gia tổ chức hội thảo phản đối Luật Tổng động viên, ông Nguyễn Tuấn Kiệt cùng các sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn là Nguyễn Thanh Tòng, Trần Văn Long bị bắt và kết án 2 năm tù. Sau một thời gian ở Chí Hòa, ông bị đày ra "địa ngục trần gian" Côn Đảo. Tại đây, khí tiết của người cán bộ Thành Đoàn vẫn được giữ vững. Bọn cai ngục ép tù nhân chào cờ và hô khẩu hiệu phản cách mạng như một cách để đánh gục ý chí và sỉ nhục nhân cách. Những người kiên quyết chống chào cờ như ông Kiệt bị đưa xuống các khu biệt giam khắc nghiệt nhất là chuồng cọp. Nhưng cũng chính nơi ngục tù tăm tối, khắc nghiệt ấy, tinh thần vượt khó, sáng tạo, lạc quan cách mạng của ông và các tù nhân chính trị lại tỏa sáng. Với tâm thế "thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao", ngay trong ngục tù Côn Đảo, ông Kiệt đã sáng tác hai ca khúc "Khi đất nước tôi thanh bình" và "Niềm tin" thắp sáng trong lòng mình, đồng đội mình ngọn lửa của niềm tin kiên định, hy vọng tươi sáng về ngày đất nước sẽ hòa bình, thống nhất.
Những ca khúc cách mạng vang lên trong ngục tối là minh chứng cho ý chí, bản lĩnh của những người tù chính trị được rèn giũa không bao giờ đầu hàng trước nghịch cảnh.
Cuộc phản công từ bóng tối chuồng cọpNăm 1970, sau gần hai năm giam cầm, dưới sức ép mạnh mẽ của phong trào đấu tranh sinh viên, chính quyền Sài Gòn buộc phải trả tự do cho nhóm 5 sinh viên: Nguyễn Tuấn Kiệt, Trần Văn Long, Nguyễn Thanh Tòng, Cao Nguyên Lợi và Nguyễn Minh Trí. Thay vì trở về nhà để hồi phục sức khỏe đã kiệt quệ, ngay khi vừa đặt chân lên đất liền, ông Nguyễn Tuấn Kiệt cùng đồng đội đã thực hiện một nhiệm vụ lịch sử: Đứng ra tố cáo công khai sự dã man, tàn nhẫn của nhà tù Côn Đảo tại cuộc hội thảo do Tổng hội Sinh viên Sài Gòn tổ chức. Nhóm đã bàn bạc kỹ về việc xuất hiện từ trang phục đến nội dung. Cuối cùng, họ quyết định, 4 sinh viên mặc sơ mi, quần tây, còn ông Cao Nguyên Lợi mặc nguyên bộ đồ tù rách nát, tả tơi (do phải xé áo quần để làm vệ sinh trong tù). Họ thống nhất nói đúng sự thật về cảnh tra tấn, ăn uống thiếu thốn và điều kiện mất vệ sinh trầm trọng, tuy nhiên cũng cân nhắc mức độ để vừa đủ sức thuyết phục, vừa không làm các sinh viên khác sợ hãi. Tại giảng đường lớn Đại học Khoa học Sài Gòn, trước hơn 1.000 sinh viên, bản tố cáo với các bằng chứng xác thực của những người vừa trở về từ "địa ngục trần gian" gầy gò, xanh xao đã khiến những người tham dự vừa xót xa vừa căm phẫn, bùng nổ thành một cuộc xuống đường quy mô lớn. Sau cuộc tố cáo này, Ủy ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao tù được thành lập, tập hợp gần một trăm nhân sĩ, trí thức tên tuổi lúc bấy giờ. Ủy ban đã lên danh sách các sinh viên, học sinh bị bắt gửi ra nước ngoài kêu gọi lực lượng tiến bộ trong đồng bào người Việt ở Pháp đấu tranh đòi trả tự do và công bố danh sách các sinh viên, học sinh bị bắt để ngăn chặn địch âm thầm thủ tiêu tù nhân.
Không những thế, sự kiện 5 sinh viên tố cáo "chuồng cọp Côn Đảo" đã trực tiếp dẫn đến cuộc điều tra của phái đoàn quốc tế. Từ lời tố cáo của ông Kiệt và nhóm sinh viên, ký giả Don Luce cùng hai nghị sĩ Mỹ là Augustus Hawkins và William Anderson đã quyết định tìm ra sự thật. Dựa trên trí nhớ sau những ngày bị giam cầm, ông Cao Nguyên Lợi đã vẽ lại bản đồ chi tiết khu chuồng cọp. Ông Kiệt và đồng đội cung cấp những thông tin về các quy luật ngụy trang tinh vi của cai ngục: Từ những đống củi khô giả làm kho chứa đến những luống rau lang trồng ngay trên nóc hầm ngục để che mắt. Chính nhờ sự chỉ dẫn chuẩn xác này, phái đoàn Mỹ đã tìm thấy lối vào bí mật của chuồng cọp vào tháng 7/1970 - một nơi mà trước đó chính quyền Sài Gòn luôn khẳng định là không tồn tại. Những tấm ảnh chụp tù nhân gầy guộc như những bộ xương khô, tay giơ cao qua song sắt… xuất hiện trên trang bìa của các tạp chí danh tiếng như Life, Newsweek, Time làm rúng động truyền thông quốc tế.
Bản lĩnh người trí thức cách mạng
Sau khi bước ra từ địa ngục Côn Đảo, ông Nguyễn Tuấn Kiệt trở lại Đại học Văn khoa Sài Gòn tiếp tục dấn thân vào những cuộc đấu tranh mới. Cuối tháng 5/1972, giữa lúc chính quyền Sài Gòn ra sức đàn áp phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh, ông bị bắt lần thứ hai. Lần này, ông bị biệt giam 9 tháng tại Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn. Bị nhốt trong không gian chật hẹp, ngột ngạt của xà lim số 1, ông vẫn duy trì sự nhạy bén chính trị. Qua những mẩu báo rách hay những dòng tít lén nhìn được từ tay cai ngục, ông vẫn dõi theo tình hình chiến sự ở bên ngoài. Ông đau xót khi biết tin Mỹ ném bom Hà Nội vào cuối năm 1972. Trong bóng tối của xà lim, nỗi đau hướng về miền Bắc và mong ước, niềm tin vào sự tất thắng đã kết tinh thành bài thơ đầy xúc động "Đêm Giáng sinh trong tù". Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người con phương Nam hướng về Thủ đô mà còn là lời khẳng định về sự bất diệt của tinh thần dân tộc ngay trong xiềng xích.

Ông Nguyễn Tuấn Kiệt chia sẻ về những năm tháng hoạt động cách mạng, năm 2025.
Tháng 7/1973, theo hiệp định Paris, ông Nguyễn Tuấn Kiệt được trao trả tại Lộc Ninh. Sau một thời gian ngắn bồi dưỡng tại căn cứ ông nhận nhiệm vụ quan trọng: Trở lại Sài Gòn trực tiếp phụ trách phong trào tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau các đợt "khủng bố trắng" tàn khốc năm 1972, các cơ sở cách mạng trong Thành phố bị tổn thất nặng nề. Ông Kiệt đã cùng các đồng chí cốt cán âm thầm kết nối lại những sợi dây liên lạc đã đứt, gây dựng các cơ sở mới ngay trong lòng địch. Ông tập trung vào việc tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy lòng tự hào dân tộc trong sinh viên, biến giảng đường Văn khoa thành nơi nuôi dưỡng những nhân tố cách mạng trẻ tuổi, tham gia tổ chức các hoạt động như treo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rải truyền đơn, tổ chức các buổi văn nghệ… khích lệ tinh thần yêu nước. Tháng 3/1975, ông Nguyễn Tuấn Kiệt chuyển công tác về Ban Tuyên huấn Thành ủy Sài Gòn-Gia Định tiếp tục đóng góp vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Nguyễn Tuấn Kiệt công tác tại Sở Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Ông dành nhiều tâm huyết cho việc bảo tồn lịch sử phong trào sinh viên, học sinh. Ông đã hiến tặng rất nhiều hiện vật gốc quý giá cho các bảo tàng, bao gồm cả chiếc áo tù Côn Đảo. Cuốn sách "Văn khoa một thời sống đẹp" mà ông cùng đồng đội biên soạn đã trở thành tư liệu quý giá để lưu giữ ký ức về một thời hoa lửa.
Cuộc đời của nhạc sĩ Nguyễn Tuấn Kiệt là minh chứng sống động cho một nhân cách nghệ sĩ đã tự nguyện hòa nhịp vào vận mệnh sống còn của dân tộc. Tinh thần "Hát cho đồng bào tôi nghe" của một thế hệ dấn thân là hành trình không mệt mỏi: Dùng lời ca tiếng hát để thức tỉnh lương tâm, dùng nhiệt huyết tuổi trẻ để thắp lửa phong trào và dùng ý chí sắt đá để vượt qua mọi gông cùm đọa đày, hướng về tương lai tươi sáng, hòa bình và độc lập cho Tổ quốc./.
Thu Hoàn
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/thang-thanh-nien-nho-ve-mot-can-bo-thanh-doan-sai-gon-kien-trung-a256298.html