Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa

(Chinhphu.vn) - Từ cà phê, mắc ca, chè Shan Tuyết… đến chăn nuôi hàng hóa, các địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang khai thác những lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng thành động lực cho phát triển kinh tế.

Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 1.

Mở rộng khoảng 450ha cà phê

Đến xã Xa Dung (Điện Biên) thời gian này, không khí lao động diễn ra khẩn trương trên khắp các sườn đồi. Hơn 200 cán bộ, giáo viên, lực lượng vũ trang cùng các đoàn thể chính trị đồng loạt ra quân hỗ trợ người dân đào hố trồng cà phê, mắc ca. Các tổ công tác được phân công đến từng bản, từng hộ gia đình, ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, hộ thiếu lao động.

Kế hoạch năm 2026, xã phấn đấu trồng khoảng 16,7ha mắc ca (hơn 2.300 cây); mở rộng khoảng 450ha cà phê gắn với chăm sóc diện tích hiện có và phát triển thêm 15ha chanh leo.

Theo ông Phạm Đức Minh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xa Dung, cà phê và mắc ca là những loại cây phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương, đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với canh tác truyền thống.

"Mặc dù điều kiện địa hình đồi núi dốc, đất cứng và thời tiết đang nắng nóng, xã vẫn tổ chức ra quân đồng loạt đào hố trồng cây để bảo đảm tiến độ thời vụ, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết, quyết tâm của toàn thể Nhân dân trong phát triển kinh tế", ông Minh nói.

Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 2.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 3.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 4.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 5.

Hơn 200 cán bộ, giáo viên, lực lượng vũ trang và các đoàn thể chính trị xã Bạch Thông (Thái Nguyên) đã cùng nhau hỗ trợ người dân trong việc đào hố trồng cà phê và mắc ca

Chè Shan Tuyết – cây thoát nghèo nơi biên giới

Vừa đào xong những rạch đất đầu tiên để chuẩn bị xuống giống chè mới, anh Mùa A Tằng, bản Pha Đón, xã Lóng Sập (Sơn La) cho biết, trước đây gia đình chủ yếu làm nương, thu nhập bấp bênh, nhưng thấy nhiều hộ trong xã trồng chè có thu nhập đều hàng tháng nên quyết định chuyển đổi.

"Nhờ được xã hỗ trợ cây giống Shan Tuyết và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn tận tình, tôi rất yên tâm. Tôi tin rằng chỉ vài năm nữa, cây chè sẽ phát triển tốt và mang lại nguồn thu ổn định", anh Tằng chia sẻ.

Lóng Sập là xã biên giới với 22 bản, trên 4.000 hộ dân thuộc 5 dân tộc cùng sinh sống, đang từng bước biến những vùng đồi trọc thành những cánh đồng chè xanh mướt. Hiện toàn xã trồng khoảng 170ha chè, trong đó hơn 100ha đã cho thu hoạch ổn định với năng suất trung bình trên 7 tấn búp tươi/ha/năm. Cây chè đang trở thành "cầu nối" giúp nhiều hộ dân thoát nghèo.

Chủ tịch UBND xã Trần Xuân Thành nhấn mạnh: "Chúng tôi kỳ vọng việc mở rộng thêm 40ha chè Shan Tuyết trong năm 2026 sẽ tạo bước ngoặt mới về kinh tế cho địa phương. Đây còn là giải pháp quan trọng để ổn định dân cư khu vực biên giới. Chính quyền xã đang tích cực vận động người dân đăng ký trồng mới, đồng thời giám sát chặt chẽ chất lượng cây giống và quy trình kỹ thuật để bảo đảm hiệu quả lâu dài".

Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 6.

Cây chè trở thành 'cầu nối' đưa nhiều hộ dân xã Lóng Sập (Sơn La) vượt qua khó khăn, từng bước thoát nghèo

Hướng đến những sản phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng

Việc kết hợp trồng trọt và chăn nuôi hàng hóa lai là sự lựa chọn tại xã Bạch Thông (Thái Nguyên).

Vừa qua, UBND xã tổ chức hội nghị triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia cho hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Các mô hình, gồm: Trồng dưa chuột với đầu ra bao tiêu ổn định; chuối tiêu hồng có thể khai thác liên tục trong ba năm; trồng cây ăn quả có múi như quýt, cam tận dụng vùng đất đã được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý; chăn nuôi vịt bầu cổ xanh thương phẩm dựa trên lợi thế sông Cầu; nuôi gà thương phẩm theo hướng an toàn sinh học.

Theo bà Ma Thị Mận, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Bạch Thông, các mô hình hứa hẹn tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng, giúp người dân có sinh kế ổn định và nâng cao đời sống. Đặc biệt, những dự án đều hướng đến tiêu chí dễ triển khai, vốn đầu tư vừa phải, quay vòng nhanh và phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân miền núi.

Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 7.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 8.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 9.
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 10.

UBND xã Bạch Thông (Thái Nguyên) tổ chức hội nghị triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia cho hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo

Sức bật mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp hàng hóa khi được tổ chức bài bản

Tạo sinh kế từ lợi thế bản địa- Ảnh 11.

Ông Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo)

Nhìn vào sự chuyển biến tích cực ở nhiều địa phương miền núi hôm nay, ông Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho rằng, đây là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn, nhất quán trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước suốt nhiều thập kỷ qua.

Ông kể lại câu chuyện về đồng bào Tây Nguyên ở Ia Blăng, khu vực Chư Sê (Gia Lai cũ). Năm 2015, khi ông đến đây, người dân chủ yếu sống bằng nương rẫy truyền thống, tỷ lệ hộ nghèo chiếm hơn 70%. Nhưng sau 10 năm, diện mạo ngôi làng thay đổi hoàn toàn.

"Năm 2025 tôi quay lại thì không còn nhận ra Ia Blang trước đây nữa. Người dân phát triển hồ tiêu, cà phê, cao su; nhiều hộ có 3 đến 4ha. Tỷ lệ hộ nghèo ở Ia Blăng hiện chỉ còn dưới 2%, cho thấy sức bật mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp hàng hóa khi được tổ chức bài bản. Hiện nay, từ Mường Lống, Kỳ Sơn (Nghệ An) đến nhiều bản làng vùng cao Tây Bắc, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình kinh tế hiệu quả dựa trên cây trồng chủ lực và liên kết thị trường", ông Hoàng Xuân Lương chia sẻ.

Trong giai đoạn tới, theo định hướng của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ chuyển mạnh từ tư duy "hỗ trợ" sang "phát triển chủ thể", lấy người dân làm trung tâm.

Các địa phương cũng được định hướng khai thác tối đa lợi thế riêng của từng vùng, thúc đẩy sinh kế bền vững dựa trên kinh tế rừng, dược liệu, nông sản đặc sản, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và tín dụng ưu đãi gắn với nhu cầu thị trường. Song song với đó, Nhà nước sẽ tiếp tục ưu tiên cơ chế, nguồn lực cho các thôn, xã đặc biệt khó khăn nhằm tạo nền tảng phát triển dài hạn, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi.

Theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2021-2025, kinh tế vùng đồng bào DTTS&MN duy trì tăng trưởng khá, nhiều khu vực đạt cao hơn mức bình quân cả nước: vùng Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm, Tây Nam Bộ trên 7%/năm (so với mức tăng GDP cả nước năm 2024 là 7,09%). Công tác giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1,03%/năm, riêng vùng DTTS giảm 3,4%/năm; đến năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn 22,36%, thu nhập bình quân đạt 43,4 triệu đông/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020.

Sơn Hào

Tham khảo thêm
Những người gieo ‘mùa xuân’ trên vùng đất khóNhững người gieo ‘mùa xuân’ trên vùng đất khó
Tham khảo thêm
Đánh giá đúng khó khăn, phân bổ hiệu quả: Nghị định 272/2025/NĐ-CP mở lối cho đầu tư vùng DTTS và miền núiĐánh giá đúng khó khăn, phân bổ hiệu quả: Nghị định 272/2025/NĐ-CP mở lối cho đầu tư vùng DTTS và miền núi
Tham khảo thêm
Đánh thức tiềm năng đồi rừng – Kinh tế vùng cao khởi sắcĐánh thức tiềm năng đồi rừng – Kinh tế vùng cao khởi sắc
Tham khảo thêm
Chính quyền địa phương 2 cấp: Giải bài toán năng lực của cán bộ làm công tác dân tộcChính quyền địa phương 2 cấp: Giải bài toán năng lực của cán bộ làm công tác dân tộc
Tham khảo thêm
Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sốngChính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống
Tham khảo thêm
Người kể câu chuyện Phình Hồ bằng trà, mây và công nghệNgười kể câu chuyện Phình Hồ bằng trà, mây và công nghệ

Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/tao-sinh-ke-tu-loi-the-ban-dia-a262281.html