TỔNG THUẬT Tọa đàm "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp"

(Chinhphu.vn) - Trước áp lực ngày càng gia tăng đối với hệ thống điện quốc gia trong bối cảnh nắng nóng cực đoan, nhu cầu điện tăng cao và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển đất nước, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức Tọa đàm với chủ đề "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp" sáng 22/6.

Những kỷ lục mới về tiêu thụ điện liên tiếp được thiết lập ngay từ cuối tháng 5 cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống điện quốc gia trong bối cảnh nắng nóng cực đoan gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu.

Nguy cơ xuất hiện El Nino trong những tháng tới không chỉ làm gia tăng nhu cầu sử dụng điện mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn cung, đặc biệt là nguồn thủy điện. Đồng thời tình hình thế giới cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới chuỗi cung ứng xăng dầu - nguyên liệu quan trọng cho sản xuất điện. Vì vậy, bài toán bảo đảm điện cho tăng trưởng kinh tế, đời sống người dân và mục tiêu phát triển bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Tiết kiệm điện vì thế không còn là giải pháp tình thế, mà là yêu cầu mang tính chiến lược đối với cả nền kinh tế, nhất là với yêu cầu tự chủ năng lượng. Đặc biệt, cuối năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 - một trong những nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Trong văn bản này, đã 13 lần nhắc đến yêu cầu tiết kiệm điện, tiết kiệm năng lượng, với các mục tiêu rất cụ thể như tỉ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8 - 10%.

Vậy cần làm gì để giảm áp lực cho hệ thống điện? Những giải pháp công nghệ, quản trị và chính sách nào để đẩy mạnh tiết kiệm điện? Doanh nghiệp và người dân có thể đóng góp ra sao trong việc sử dụng năng lượng hiệu quả?

Đó là những vấn đề sẽ được bàn luận tại Tọa đàm "Tiết kiệm điện trong mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp".

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Tọa đàm với chủ đề "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp" có sự tham dự của các chuyên gia (từ trái sang): Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia; ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh; ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương); ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); MC Minh Ngọc - Ảnh: VGP/Đức Tuân

Tham gia chương trình có đại diện các cơ quan quản lý Nhà nước, các chuyên gia: Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương); ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam; ông Hà Đăng Sơn - Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh; ông Đặng Nguyễn Ngữ - Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia.

Áp lực của hệ thống điện hiện nay

Thưa ông Đặng Hải Dũng, thời gian gần đây công suất cực đại của hệ thống điện liên tục lập những kỷ lục mới. Điều này phản ánh như thế nào về tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện của nền kinh tế? Bộ Công Thương đánh giá đâu là những thách thức lớn nhất trong bảo đảm điện cho tăng trưởng và đời sống dân sinh hiện nay?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bô Công Thương) tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Đức Tuân

Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương): Thời gian gần đây, công suất cực đại của hệ thống điện đã vượt 58.000 MW và sản lượng điện có những ngày đạt trên 1 tỷ kWh. Đây là mức tiêu thụ rất lớn, phản ánh rõ nét quá trình phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu về điện năng cho sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội cũng gia tăng tương ứng.

Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng năng lượng luôn gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian qua, Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số. Vì vậy, chúng tôi dự báo nhu cầu năng lượng nói chung và điện năng nói riêng sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới. Trên cơ sở triển khai đồng loạt các dự án trên phạm vi cả nước, nhu cầu sử dụng điện chắc chắn sẽ còn gia tăng.

Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức. Rủi ro lớn nhất là những bất ổn địa chính trị trên thế giới, tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng năng lượng. Chúng ta đã chứng kiến những biến động rất mạnh về giá điện, than, dầu và khí. Khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chi phí năng lượng có thể tăng từ 15-20%, thậm chí cao hơn. Chẳng hạn, trong giai đoạn căng thẳng liên quan đến eo biển Hormuz, giá dầu từ mức khoảng 50-60 USD/thùng đã có thời điểm vượt 100 USD/thùng. Những biến động này tạo áp lực rất lớn lên hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế.

Bên cạnh đó, công tác bảo đảm cung ứng năng lượng còn chịu nhiều thách thức từ các yếu tố bên ngoài. Các yêu cầu mới về thuế xanh, giảm phát thải carbon, cùng các cơ chế như CBAM hay Green Deal tại các thị trường xuất khẩu lớn đang đặt ra yêu cầu hệ thống điện phải có hệ số phát thải ngày càng thấp. Điều này buộc chúng ta phải gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện.

Tuy nhiên, khi tỉ trọng năng lượng tái tạo tăng lên, công tác dự báo và vận hành hệ thống điện cũng trở nên phức tạp hơn do phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khó lường, việc dự báo nguồn điện từ năng lượng tái tạo cũng gặp nhiều khó khăn hơn. Đây là thách thức lớn đối với công tác cung ứng điện trong thời gian tới.

Những thay đổi trong cơ cấu nguồn điện đòi hỏi công nghệ vận hành hệ thống phải liên tục được nâng cấp. Công tác bảo dưỡng, duy trì hệ thống cũng phải thay đổi để thích ứng với điều kiện vận hành mới. Trước đây, chúng ta có thể dự báo tương đối ổn định để xây dựng kế hoạch sản xuất và vận hành tối ưu. Tuy nhiên hiện nay, việc dự báo gặp nhiều khó khăn hơn, kéo theo những thách thức trong xây dựng và thực hiện kế hoạch vận hành hệ thống điện.

Một vấn đề khác là quá trình đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng. Trong quá trình này, các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và nhiều khâu liên quan khác cũng là những thách thức cần được tháo gỡ để bảo đảm tiến độ các dự án điện.

Trước những thách thức đó, Chính phủ và Bộ Công Thương đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được xác định là một trong những trụ cột quan trọng bên cạnh các lĩnh vực than, dầu khí và các nguồn năng lượng khác. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09 và Chỉ thị số 20 nhằm thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà, đồng thời tăng cường các giải pháp nâng cao hiệu quả vận hành và tối ưu hóa hệ thống điện. Một số cơ chế như điều chỉnh biểu giá điện theo giờ cao điểm cũng sẽ được triển khai trong thời gian tới.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện tiềm năng tiết kiệm năng lượng thông qua kiểm toán năng lượng; thúc đẩy chuyển đổi công nghệ; đồng thời nghiên cứu, xây dựng các giải pháp tài chính hỗ trợ doanh nghiệp. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Tài chính để xây dựng và triển khai Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tạo thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên phạm vi cả nước.

Thưa ông Ngô Sơn Hải, trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới tiềm ẩn nhiều biến động, EVN đánh giá những rủi ro lớn nhất đối với công tác bảo đảm nhiên liệu cho phát điện là gì? Tập đoàn đang triển khai các giải pháp nào để chủ động ứng phó và hạn chế tác động?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Ngô Sơn Hải - Ảnh: VGP/Đức Tuân

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Ngô Sơn Hải: Thời gian qua, biến động của thị trường thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ cũng như giá nhiên liệu đầu vào cho phát điện.

Hiện nay, các nhà máy điện của EVN sử dụng hai nguồn than là than nhập khẩu và than trong nước. Than trong nước chủ yếu thông qua TKV và Công ty Đông Bắc. Than nhập khẩu hiện nay cũng mua của TKV và Công ty Đông Bắc. Nguồn LNG (cho khí cho phát điện) nhập khẩu qua PV GAS, một đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí.

Ngay từ tháng 3/2026, chúng tôi đã chỉ đạo tất cả các đơn vị phát điện phối hợp với các đơn vị cung cấp than điều chỉnh lại các kế hoạch cung cấp than cũng như cung cấp khí.

Thực tế cho thấy thời gian vừa qua, đặc biệt là giai đoạn nắng nóng, than và khí vẫn đảm bảo cho phát điện.

Để đảm bảo cung ứng điện, bên cạnh việc đáp ứng nguồn than, khí cho các nhà máy độ sẵn sàng của các nhà máy phát điện cũng phải đảm bảo thì mới đảm bảo cung ứng được điện.

Hiện nay, về phần nguồn, EVN chiếm tỉ trọng chỉ khoảng 37%, bao gồm EVN và các nhà máy của EVN, để bảo đảm cung ứng điện, cần sự vào cuộc đồng bộ của tất cả các đơn vị phát điện trong hệ thống điện.

Với sự vào cuộc đồng bộ như vậy, sẽ đảm bảo được việc cung ứng nhiên liệu cũng như cung ứng điện trong thời gian tới trong năm 2026.

Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý năng lượng và làm việc với nhiều nhà đầu tư trong nước, quốc tế, ông Đặng Nguyễn Ngữ đánh giá như thế nào về vai trò của nguồn điện ổn định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và môi trường đầu tư của Việt Nam? Trong bối cảnh các tập đoàn ngày càng quan tâm tới phát triển xanh và giảm phát thải, yêu cầu về an ninh năng lượng đang tác động như thế nào tới quyết định đầu tư của họ?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Campuchia - Ảnh: VGP/Đức Tuân

Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Campuchia: Tôi rất chia sẻ về những áp lực rất lớn hiện nay trong công tác điều hành của Bộ Công Thương cũng như của EVN.

Với quan điểm của chúng tôi thì nguồn điện ổn định là nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế, là hạ tầng cốt lõi để đảm bảo cho sản xuất liên tục, không bị gián đoạn. Một gián đoạn nhỏ sẽ gây ra tổn thất rất lớn cho những ngành thâm dụng năng lượng như ngành về trung tâm dữ liệu, công nghiệp nặng, mỏ, ngành khai thác hoặc là ngành sản xuất thực phẩm. Đặc biệt, Việt Nam chúng ta đang nổi lên như một trung tâm sản xuất toàn cầu cho ngành điện tử và bán dẫn. Với nhiều tập đoàn lớn đầu tư ở Việt Nam, bất cứ một sự gián đoạn nào về nguồn cung năng lượng đều gây ra hậu quả rất lớn trong những ngành này.

Hơn nữa, Việt Nam là một điểm đến, một trong những lý do mà các nhà đầu tư lớn trên thế giới chọn Việt Nam, bên cạnh yếu tố địa chính trị, chính là chúng ta nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong đó Việt Nam là một điểm đến rất tốt. Phần cạnh tranh quốc gia còn đến từ yếu tố năng lượng. Hệ thống điện đáng tin cậy sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vận hành cũng như hiệu suất, năng suất, đặc biệt là năng lực sản xuất của chúng ta.

Tiếp theo nữa là chất lượng cũng như sự ổn định của nguồn điện sẽ tạo ra niềm tin rất lớn. Khi chúng ta tiến lên từ quá trình công nghiệp hoá rồi số hoá, chuyển đổi số, chúng ta nói rất nhiều đến cơ sở dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu. Điều đầu tiên khi các nhà đầu tư lớn trên toàn cầu chọn một nơi để họ đặt trung tâm dữ liệu, một trong ba yếu tố quan trọng nhất với họ chính là nguồn cung điện. Hiện nay đây là một áp lực rất lớn.

Áp lực đó còn lớn hơn nữa khi chúng ta đang có những cam kết về giảm phát thải, net zero, về carbon. Cơ sở quốc gia có thể cung cấp cho các nhà đầu tư, các nhà sản xuất một nguồn năng lượng xanh và nguồn năng lượng sạch. Nếu các doanh nghiệp như chúng tôi phải tự đi từ phát triển nguồn cung sẽ tạo ra nhiều vấn đề cực kỳ phức tạp. Doanh nghiệp tự đầu tư mà không sử dụng hệ thống của quốc gia thì sẽ tăng chi phí rất nhiều và doanh nghiệp trong nước cũng sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh vì phải đáp ứng rất nhiều tiêu chuẩn ngày càng khắt khe.

Quan điểm của chúng tôi là an ninh năng lượng quốc gia là một tiêu chí, là điểm đến để tạo ra lợi thế cạnh tranh, thu hút đầu tư tốt hơn trên cơ sở chúng ta tăng tốc năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Chúng ta phải tăng tốc hơn nữa quá trình số hóa lưới điện cũng như đảm bảo sự ổn định và linh hoạt của hệ thống.

Tiết kiệm điện - Giải pháp cấp thiết hay chiến lược lâu dài?

Qua những phân tích phần đầu có thể thấy nhu cầu điện ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới. Trong khi việc đầu tư nguồn điện mới luôn cần thời gian và nguồn lực rất lớn. Trong bối cảnh đó nhiều quốc gia coi tiết kiệm điện là nguồn năng lượng đầu tiên và là giải pháp có chi phí thấp nhất để bảo đảm an ninh năng lượng. Vậy tại Việt Nam, tiết kiệm điện đang được nhìn nhận như một giải pháp ứng phó trước mắt hay đã trở thành một chiến lược phát triển dài hạn? Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị cũng như nhiều văn bản gần đây đều đặt ra yêu cầu cao về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Thưa ông Đặng Hải Dũng, xin ông cho biết những định hướng và giải pháp của Bộ Công Thương đang triển khai để đưa tiết kiệm điện trở thành một trụ cột trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công Đặng Hải Dũng (giữa) trao đổi cùng các chuyên gia tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công Đặng Hải Dũng: Chúng ta có thể thấy việc tiết kiệm năng lượng nói chung và tiết kiệm điện nói riêng là một trong những chiến lược của chúng ta thời gian tới.

Thực tế từ 2011 trở lại đây, chúng ta cũng đặt ra chiến lược và đã ban hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả lần đầu tiên năm 2010. Năm ngoái, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Qua đó chúng ta định hình hoạt động tiết kiệm năng lượng và tiết kiệm điện là một nội dung trọng tâm trong phát triển kinh tế thời gian tới.

Ngoài vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng, chúng ta còn có các vấn đề về thị trường, bảo đảm tính cạnh tranh quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh của thị trường chung. Châu Âu từ 2026 đã áp thuế carbon, hệ thống chứng chỉ carbon lên các sản phẩm nhập từ thị trường bên ngoài. Đồng thời họ cũng đưa ra rất nhiều vấn đề về hạn chế năng lực thâm nhập, tiếp cận thị trường của họ liên quan đến các vấn đề như ESG, phát triển bền vững, hàng rào xanh...

Nếu như năm 2010, phiên bản đầu tiên, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả mang tính chất khuyến khích, vận động, thúc đẩy. Đến năm 2025, chúng ta sửa đổi mang tính chất tăng cường hơn việc quản lý năng lượng trong sản xuất kinh doanh và sử dụng. Sau Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, từ Nghị quyết 70 cho đến các chỉ thị gần đây đều tăng cường kỷ cương trong sản xuất, tiêu dùng và sử dụng năng lượng.

Chính phủ yêu cầu tất cả đối tượng liên quan, từ các cơ quan công sở nhà nước cho đến doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch, đặt KPI, chỉ tiêu liên quan đến sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và định mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất. Và kể cả trong khối nhà nước, chúng ta sẽ tăng cường kỷ cương, kiểm soát vấn đề tiêu dùng năng lượng.

Các vấn đề tiếp theo liên quan đến xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, chúng ta sẽ nâng dần lên, bởi vì tiêu chuẩn, quy chuẩn này ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề sản xuất, nhất là khi đưa hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Khi hệ thống thuế carbon áp dụng, các vấn đề về tiêu thụ năng lượng chiếm khoảng 70-80% hàm lượng carbon sẽ đánh thuế. Chính vì vậy, việc thắt chặt tiêu chuẩn, quy chuẩn trong thời gian tới theo Chỉ thị 10 đã yêu cầu tăng tối thiểu 5% cho các hoạt động từ sản xuất cho đến tiêu dùng các dịch vụ.

Còn một biện pháp nữa liên quan đến vận hành lưới điện là tăng cường quản lý nhu cầu. Thời gian tới chúng ta sẽ triển khai, giúp chúng ta tối ưu hệ thống điện hơn và sử dụng tối đa lượng điện mặt trời.

Còn các vấn đề liên quan đến thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chúng ta cũng xây dựng những chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nhận dạng các tiềm năng. Chúng ta nhận dạng lãng phí và nhận dạng tiềm năng tiết kiệm năng lượng thông qua hỗ trợ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp kiểm toán năng lượng. Chúng tôi cũng xây dựng các hệ thống mạng lưới chuyên gia mà chúng tôi gọi là "mạng lưới quản lý năng lượng" hoặc "mạng lưới về tư vấn năng lượng". Trong mạng lưới này có cả các đơn vị liên quan đến cung cấp giải pháp để kết nối các doanh nghiệp đang tiêu thụ năng lượng, doanh nghiệp đang mong muốn thực hiện tiết kiệm hoặc là tuân thủ, có thể tiếp cận được với những nơi có các giải pháp công nghệ, công cụ hỗ trợ họ trong đầu tư giải pháp triển khai tiết kiệm.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đang trình dự thảo đầu tiên về xây dựng Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Luật đã cho phép xây dựng Quỹ này. Quỹ có mục tiêu: Ngoài công cụ hỗ trợ kỹ thuật ra còn có công cụ hỗ trợ về tài chính để các doanh nghiệp sử dụng khi muốn thay đổi, nâng cấp về công nghệ, bảo đảm tiết kiệm năng lượng.

Nhiều quốc gia hiện nay coi phần năng lượng tiết kiệm được chính là một "nguồn năng lượng mới" bởi chi phí tiết kiệm thường thấp hơn rất nhiều so với đầu tư nguồn điện mới. Theo ông Hà Đăng Sơn, Việt Nam đã thực sự coi tiết kiệm điện là một nguồn lực chiến lược hay chưa? Đâu là những rào cản lớn nhất khiến việc tiết kiệm điện chưa trở thành thói quen và văn hóa trong toàn xã hội?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh: Ngay từ lúc Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được ban hành năm 2010, Bộ Công Thương cũng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có rất nhiều chương trình để truyền thông, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cho các doanh nghiệp, liên quan đến vấn đề tiết kiệm năng lượng nói chung và tiết kiệm điện nói riêng. Hằng năm, Thủ tướng Chính phủ luôn có những chỉ thị liên quan đến tiết kiệm điện.

Nhìn tổng thể lại, bây giờ gần như các doanh nghiệp đều có tư duy và nhận thức tốt về vấn đề tiết kiệm điện bởi đấy là câu chuyện "đánh" vào túi tiền của họ, liên quan đến lợi nhuận, tới rủi ro như đại diện Schneider vừa chia sẻ. Tức là nếu nguồn cung không tốt, chúng ta không làm chủ được chất lượng điện năng cung ứng thì nó ảnh hưởng tới sản phẩm.

Tuy nhiên hiện nay, nếu nhìn vào khối hộ tiêu thụ, dân cư (chiếm khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ điện), thì nhận thức ở khu vực này vẫn còn rất nhiều vấn đề.

Thứ nhất là tư duy "Tôi có tiền thì tại sao tôi không được dùng nhiều? Tôi trả được thì tại sao tôi không được dùng nhiều?", dẫn tới tư duy "tôi kiếm được tiền thì tôi có quyền lãng phí". Họ chưa nhận thức được tác động và ảnh hưởng. Ở một mức độ nào đó, chi phí điện năng là phù hợp, nhưng khi chúng ta dùng vượt quá một ngưỡng công suất nào đó, sẽ dẫn tới việc chi phí để huy động các thiết bị trong hệ thống đắt đỏ hơn, gây ra chi phí đầu tư đòi hỏi rất lớn. Trong khi những người sử dụng lãng phí điện lại chưa phải chịu trách nhiệm về hành vi gây tác động lớn tới hệ thống điện thông qua hệ thống giá. Bởi vì giá điện bán lẻ hiện nay vẫn là giá được kiểm soát, thông thường vẫn còn bù chéo và chưa thể hiện được yếu tố chi phí công suất ở trong đó.

Điều thứ hai liên quan tới tư duy "dùng nhiều thì phải rẻ", tức là thắc mắc "tại sao bình thường hàng hóa khác dùng nhiều thì rẻ đi, mà điện cứ dùng nhiều lại đắt hơn?" Điều này thực sự rất khó giải thích đối với những người tiêu dùng bình thường. Người ta không hiểu được những đặc thù rất đặc biệt của cung ứng điện, rồi giá trị của mỗi một kilowatt điện cắt giảm được.

Như chúng ta đã trao đổi từ đầu, rất nhiều quốc gia và bản thân Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng nhắc đi nhắc lại câu chuyện tiết kiệm điện chính là nguồn điện đầu tiên (first fuel). Nhưng, người dân thông thường chưa thực sự hiểu được nhận thức đấy vì họ chưa thấy rõ được chi phí về giá điện bán lẻ.

Yếu tố thứ ba nữa là cơ chế thị trường cho điều chỉnh phụ tải điện. Việc này EVN rất hiểu, hằng năm phải đến làm việc với các doanh nghiệp nhưng chúng ta chưa có một cơ chế tài chính nào để giúp EVN, ví dụ như thống nhất chi trả bao nhiêu, định giá được sự đóng góp của doanh nghiệp để có thể trả lại tiền, bù đắp được sự "hy sinh" của doanh nghiệp trong vấn đề này.

Vấn đề thứ tư liên quan đến đầu tư. Thông thường, từ doanh nghiệp đến người dân, nếu không có nhận thức đủ sâu thì cách tiếp cận đầu tiên là mua thiết bị giá rẻ trước tiên. Thế nhưng thiết bị giá rẻ thường có hiệu suất năng lượng không cao, hoặc thậm chí trong quá trình vận hành sẽ có rất nhiều sự cố. Khi chất lượng kém, người ta sẵn sàng bán giá rẻ, nhưng đổi lại rủi ro về cháy nổ, sự cố điện rất cao, đồng thời không bảo đảm được yêu cầu về tiết kiệm điện.

Cuối cùng, chúng ta thấy là chưa có thói quen đo đếm và xem xét các số liệu. EVN đã xây dựng những công cụ giúp người tiêu dùng kiểm tra hằng ngày xem mình tiêu dùng bao nhiêu, nhưng không nhiều người dân hay doanh nghiệp theo dõi các con số này.

Ngày xưa khi chúng tôi đi học, thầy giáo dạy rằng: "Bạn không thể quản lý được cái mà bạn không đo đạc được". Nhất định phải đo đạc, phải đánh giá, phải theo dõi số liệu thì mới biết việc tiêu dùng và tiết kiệm của mình như thế nào cho đúng.

EVN có những khuyến nghị cụ thể nào để người dân vừa tiết kiệm điện hiệu quả, vừa bảo đảm nhu cầu sinh hoạt trong mùa nắng nóng?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Phó Tổng Giám đốc EVN Ngô Sơn Hải (giữa) trao đổi về các giải pháp tiết kiệm điện tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Phó Tổng Giám đốc EVN Ngô Sơn Hải: Như các diễn giả đã trao đổi, chúng ta cần nhìn nhận rằng tiết kiệm điện không chỉ đơn thuần là giảm chi phí tiền điện mà còn mang ý nghĩa lớn hơn rất nhiều, đó là góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững.

Với tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện hiện nay, mỗi năm hệ thống điện quốc gia cần bổ sung khoảng 4.000-5.000 MW công suất mới. Trong bối cảnh đó, tiết kiệm điện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm áp lực đầu tư cho ngành điện. Chẳng hạn, để bổ sung 1.000 MW từ các dự án điện gió ngoài khơi hoặc điện khí LNG, sau khi hoàn tất các thủ tục cũng phải mất 3-4 năm để đưa vào vận hành. Trong khi đó, nếu tiết kiệm được khoảng 2% công suất tiêu thụ thì chúng ta đã tương đương với việc giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW. Điều này cho thấy tiết kiệm điện là giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và ít tốn kém hơn rất nhiều.

Đối với mỗi hộ gia đình và doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế luôn là yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, cần thấy rằng mỗi kWh điện tiết kiệm được không chỉ giúp giảm chi phí cho người sử dụng mà còn làm giảm chi phí chung của toàn xã hội. Hiện nay, đơn vị vận hành hệ thống điện phải huy động các nguồn điện theo thứ tự từ chi phí thấp đến chi phí cao để đáp ứng nhu cầu phụ tải. Khi nhu cầu sử dụng điện tăng lên, hệ thống buộc phải huy động thêm các nguồn điện có giá thành cao hơn. Vì vậy, tiết kiệm điện sẽ góp phần hạn chế việc huy động các nguồn điện đắt đỏ, qua đó giảm chi phí vận hành chung của toàn hệ thống.

Về các khuyến nghị cụ thể đối với người dân và doanh nghiệp, hiện nay Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã triển khai nhiều công cụ hỗ trợ và tư vấn. Trên website của Tập đoàn cũng như các tổng công ty điện lực đều có đầy đủ thông tin hướng dẫn sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.

Đối với mùa nắng nóng, điều hòa là thiết bị tiêu thụ điện năng lớn nhất trong nhiều hộ gia đình. Vì vậy, người dân nên cài đặt nhiệt độ ở mức khoảng 26 độ C để vừa bảo đảm sự thoải mái vừa tiết kiệm điện. Đồng thời, cần hạn chế thất thoát hơi lạnh bằng cách đóng kín cửa, tránh để không gian mở khi sử dụng điều hòa. Hệ thống điều hòa cũng cần được kiểm tra, vệ sinh và bảo dưỡng định kỳ, thông thường từ vài lần mỗi năm, nhằm duy trì hiệu suất vận hành tối ưu.

Đối với những không gian không sử dụng điều hòa, có thể ưu tiên các giải pháp thông gió tự nhiên hoặc sử dụng các thiết bị chống nóng để nâng cao hiệu quả làm mát. Bên cạnh đó, người dân và doanh nghiệp nên hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị điện có công suất lớn, đặc biệt trong khung giờ cao điểm của hệ thống điện. Hiện nay, vào mùa hè, giờ cao điểm thường kéo dài từ khoảng 18h đến 22h-23h. Điều này không có nghĩa là người dân không được sử dụng điện trong thời gian này, mà nên cân nhắc chuyển các thiết bị không thực sự cần thiết sang các khung giờ khác để giảm áp lực cho hệ thống.

Đối với việc đầu tư thiết bị điện, người dân và doanh nghiệp nên ưu tiên lựa chọn các sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao. Chúng tôi hiện có nhiều công cụ trực tuyến hỗ trợ tính toán mức tiêu thụ điện, đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng và thực hiện kiểm toán năng lượng. Các công cụ này giúp người sử dụng đánh giá hiệu quả kinh tế của việc đầu tư các thiết bị mới. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp chi phí đầu tư ban đầu có thể được hoàn vốn chỉ sau vài năm nhờ phần điện năng tiết kiệm được. Những nội dung này đều có thể được các đơn vị tư vấn chuyên môn đánh giá và phân tích cụ thể.

Đối với các vấn đề cần tư vấn, giải đáp hoặc hỗ trợ liên quan đến sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, chúng tôi hiện có hệ thống 5 tổng công ty điện lực với 5 trung tâm chăm sóc khách hàng hoạt động thường xuyên, cùng các đường dây nóng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Khi có bất kỳ vướng mắc nào, người dân có thể liên hệ trực tiếp với các trung tâm chăm sóc khách hàng để được tư vấn và giải đáp cụ thể.

Thưa ông Đặng Nguyễn Ngữ, là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý năng lượng, ông nhận thấy đâu là những quan niệm sai lầm phổ biến nhất hiện nay về tiết kiệm điện? Theo ông, doanh nghiệp cần thay đổi điều gì để việc tiết kiệm điện không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà trở thành những hành động cụ thể, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia Đặng Nguyễn Ngữ chia sẻ về những quan niệm sai lầm phổ biến nhất hiện nay về tiết kiệm điện - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia Đặng Nguyễn Ngữ: Tôi rất tâm đắc và hoàn toàn chia sẻ quan điểm của đại diện bên EVN. Một lần nữa, nhìn lại những năm vừa qua, Chính phủ, Bộ Công Thương cũng như EVN đã có rất nhiều hoạt động liên tục để cải thiện và thay đổi tình hình. Thực tế, chúng ta có thể vui mừng nhìn lại là qua một quá trình xuyên suốt, tình hình đã có những sự thay đổi đáng kể và đáng ghi nhận trong doanh nghiệp cũng như người dân về việc tiết kiệm năng lượng nói chung và tiết kiệm điện nói riêng. Đây là sự cố gắng không của riêng ai, không của riêng tổ chức nào mà là của tất cả chúng ta.

Chúng ta nghĩ đến "tiết kiệm" là thường ngay lập tức nghĩ đến "không sử dụng nữa" hoặc "giảm tiêu thụ". Thực tế, chúng ta có thể tiết kiệm nhưng không thể ngừng sản xuất, không thể ngừng sử dụng. Cho nên, quan niệm đầu tiên tôi muốn đính chính lại là: Tiết kiệm điện không có nghĩa là ngừng hoặc giảm tiêu thụ một cách máy móc.

Câu hỏi đặt ra là: Có phương án nào để chúng ta tiết kiệm nhưng đồng thời làm tốt hơn bằng việc tăng hiệu suất và có ý thức tốt hơn?

Việc tiết kiệm như thế đến từ tối ưu hóa. Tối ưu hóa việc sử dụng điện, sử dụng năng lượng ở mỗi hộ gia đình, mỗi tòa nhà, mỗi nhà máy xí nghiệp và trên bình diện cả quốc gia. Đó là điều đầu tiên.

Thứ hai, hiện nay chúng ta đang sống trong thời đại số hóa và AI. AI đang thúc đẩy mọi thứ rất nhanh. Nếu trước đây, một phương án ra đời (kể cả phương án tiết kiệm) có thể tốn khoảng 10 năm từ ý tưởng đến thực tế, thì hiện nay có thể chỉ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng với sự phát triển của AI.

Hiện nay, những công nghệ sử dụng AI đang đi vào thực tế rất nhanh, từ nhà thông minh (Smart Home), tòa nhà thông minh (Smart Building), nhà máy thông minh (Smart Factory) và thậm chí là lưới điện thông minh (Smart Grid). Việc áp dụng AI giúp tiết kiệm, tăng hiệu suất cao hơn và điều chỉnh dựa trên thời gian thực. Sau khi số hóa, chúng ta hoàn toàn có thể quản lý, thậm chí các đỉnh tải (peak load), theo thời gian thực.

Một quan điểm nữa cần đính chính: Trước đây chúng ta hay coi đầu tư cho tiết kiệm là "chi phí". Nhưng với công nghệ hiện nay, thực hành tiết kiệm không còn là chi phí nữa mà là một khoản đầu tư.

Tôi rất đồng ý với quan điểm của anh Hà Đăng Sơn. Ngày xưa đi học ở Bách khoa, các thầy luôn nói "Chúng ta không thể cải thiện cái gì mà chúng ta không thể đo đếm được". Đầu tiên phải đo đếm, sau đó mới cải thiện được. Hiện nay, tất cả đầu tư cho tiết kiệm đều có phương án để đo đếm và tính toán bài toán thu hồi vốn, dù là điện mặt trời cho gia đình hay giải pháp cho nhà máy.

Quan điểm thứ ba là chúng ta hay nghĩ chỉ cần có thiết bị hiện đại, mới là đủ. Ví dụ như thay bóng đèn dây tóc, đèn huỳnh quang bằng đèn LED. Việc đó cần thiết nhưng chưa đủ. Không phải cứ áp dụng công nghệ mới là xong, mà cần có tư duy mang tính hệ thống. Ví dụ như quản lý dữ liệu qua quá trình số hóa và đặc biệt là tối ưu hóa vận hành theo thời gian thực.

Nhiều năm qua, ban đầu chúng ta đi từ áp lực thực tế, nhưng sau đó đã có Chiến lược quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Hiện nay, chúng ta đang bước sang một giai đoạn mới: Biến chiến lược thành các bộ công cụ thực thi cho mỗi bộ ngành, nhà máy, xí nghiệp.

Dưới góc độ của một doanh nghiệp FDI (Schneider Electric), chúng tôi nhìn nhận việc quản lý năng lượng và tiết kiệm điện đã trở thành một năng lực cạnh tranh cốt lõi, cũng như là một phần của chuyển đổi xanh. Chúng tôi hoàn thành ủng hộ quan điểm tiết kiệm không chỉ là chi phí nữa mà sẽ là đầu tư. Chúng tôi muốn chia sẻ quan điểm là đã đến lúc chúng ta phải biến chiến lược thành chương trình hành động và hành động thực tế.

Chúng ta cần biến những gì đã suy nghĩ thành chương trình hành động thực tế. Có thể chọn những dự án có hiệu quả ngay (quick wins) để chứng minh hiệu quả, sau đó mở rộng ra. Không nhất thiết phải bắt đầu bằng cái gì quá to tát. Tiết kiệm ở nhà, xây dựng ý thức, sau đó đến cơ quan và doanh nghiệp.

Cuối cùng, chúng tôi là công ty công nghệ nên cho rằng hiện nay, với tốc độ AI rất nhanh thì chúng ta có rất nhiều cơ hội để đi nhanh so với các nước khu vực xung quanh bằng việc chủ động ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và đặc biệt là số hóa, vận hành lưới điện theo thời gian thực. Đây là những công nghệ có thể giúp chúng ta rất sớm, rất nhanh để có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế với những áp lực trong vận hành hiện nay. Chúng ta cần tối ưu hóa không phải trong một ứng dụng nhỏ mà là một hệ thống ở bình diện quốc gia.

Công nghệ và giải pháp tiết kiệm điện

Qua trao đổi có thể thấy tiết kiệm điện không chỉ là câu chuyện thay đổi thói quen sử dụng điện mà ngày càng gắn chặt với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và quản trị năng lượng thông minh.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đang coi công nghệ là công cụ quan trọng để giảm tiêu thụ năng lượng mà vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế. Vậy Việt Nam đang đứng ở đâu trong xu hướng này.

Thưa ông Hà Đăng Sơn, những xu hướng công nghệ nào đang tạo ra thay đổi lớn nhất trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng trên thế giới và Việt Nam cần quan tâm đến những giải pháp nào?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Ông Hà Đăng Sơn trao đổi về các xu hướng công nghệ trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng - Ảnh: VGP/Đức Tuân

Ông Hà Đăng Sơn: Như đại diện Schneider vừa chia sẻ, hiện nay chúng ta nói về AI, về số hóa, về trung tâm dữ liệu nhưng chúng ta phải nhìn góc độ chuyển đổi số ở hai khía cạnh. Đấy là một hộ tiêu thụ điện mới gây áp lực rất nhiều lên hệ thống; nhưng đồng thời đổi lại là công cụ số rất tốt cho chúng ta trong việc tối ưu hóa, một công cụ quan trọng để giúp chúng ta tối ưu từng bước, từng khâu trong hệ thống tốt nhất, cân bằng giữa năng lực cung ứng cũng như nhu cầu tiêu dùng của chúng ta.

Đương nhiên khi có số hóa, có những số liệu quản lý và báo cáo được thì đây cũng là công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp đáp ứng được những yêu cầu như là ESG hay xuất khẩu thì phải bảo đảm được những báo cáo về sử dụng năng lượng tái tạo hay giảm phát thải khí nhà kính.

Đối với các công cụ số, hiện nay đã có rất nhiều cách thức tiếp cận để bắt đầu từ thiết kế. Ví dụ như các hệ thống Building Information Modeling (BIM) bảo đảm cho chúng ta có thể mô phỏng một tòa nhà ngay từ khâu thiết kế và sau đó tối ưu được tiêu dùng năng lượng theo những thách thức khác nhau.

Vừa rồi một số chuyên gia quốc tế chia sẻ rằng khi tối ưu được từ đầu và đưa ra những thiết bị công nghệ tối ưu, thậm chí là tiêu dùng điện năng của các tòa nhà công sở hay các tòa nhà thương mại, có thể giảm được khoảng 40-60% năng lượng tiêu thụ của các tòa nhà này.

Tiếp nữa là quản lý năng lượng, việc này Schneider làm rất nhiều. Chúng ta thấy việc ứng dụng các AIoT (Trí tuệ nhân tạo vạn vật) kết hợp giữa Trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) có thể giúp quá trình vận hành tối ưu được rất nhiều. Ở đây chúng ta phải thay thế những thông số đo truyền thống. Trước đây, với điều hòa không khí chẳng hạn, chúng ta chỉ toàn dùng thông số nhiệt độ để làm thông số điều khiển nhưng gần đây xu hướng thế giới lại dùng nồng độ CO2 làm thông số đầu vào để điều chỉnh tối ưu hệ thống điều hòa không khí, nhất là trong hệ thống lấy gió bên ngoài vào.

Như thế, trước đây, chúng ta lấy theo thông số nhiệt độ và dẫn tới câu chuyện kể cả người sử dụng trong phòng không nhiều nhưng chúng ta vẫn chạy hệ thống với tần suất và công suất như cũ. Bây giờ chúng ta điều chỉnh lại thông số đầu vào, lập tức cách thức điều khiển và tối ưu hệ thống cũng khác biệt.

Thứ ba, như ông Đặng Hải Dũng đã chia sẻ, vấn đề xây dựng và đưa ra những tiêu chuẩn mới hoặc hướng dẫn kỹ thuật mới rất quan trọng. Bởi vì với công nghệ mới, nhu cầu mới, chúng ta cần có những bộ tiêu chuẩn phù hợp. Ví dụ như các trung tâm dữ liệu thì đối với quốc tế, họ đã có tiêu chuẩn về ASHRAE 90.4. Nhưng hiện giờ Việt Nam chưa ban hành tiêu chuẩn tương tự.

Gần đây, chúng ta thấy một xu hướng quan trọng là lưu trữ năng lượng. Chúng ta quen nghe là các pin lưu trữ năng lượng, nhưng ngoài pin lưu trữ năng lượng, chúng ta còn rất nhiều dạng lưu trữ năng lượng khác có thể giúp chuyển các nhu cầu. Ví dụ như điều hòa không khí, làm lạnh công nghiệp, kể cả trong sản xuất… để chúng ta có thể thay đổi được phụ tải đỉnh về cả năng lượng chứ không phải chỉ có điện, để sử dụng về sau. Đấy là những thách thức về mặt công nghệ hiện nay khá phổ biến trên thế giới.

Từ góc độ ngành điện, công nghệ đang góp phần như thế nào trong việc giảm áp lực phụ tải và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện quốc gia? EVN đã và đang triển khai những giải pháp số hóa, lưới điện thông minh, quản lý phụ tải hay các ứng dụng công nghệ nào để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp sử dụng điện hiệu quả hơn?

Phó Tổng Giám đốc EVN Ngô Sơn Hải: Đối với ngành điện, chúng tôi đã triển khai công tác chuyển đổi số cho tất cả các khâu từ phát điện, truyền tải, phân phối đến chăm sóc khách hàng. Ví dụ về chuyển tải và lưới điện, tất cả các hệ thống trạm điện từ 110, 220, 500 kV hiện nay không có người trực mà tự động điều khiển. Toàn bộ hệ thống trên lưới truyền tải, lưới phân phối hiện nay gần như tự động. Việc này đem lại hiệu quả rất lớn trong việc điều hành hệ thống, cũng như điện năng sử dụng cho truyền tải và phân phối cũng giảm đi đáng kể. Từ năm 2015 đến nay, sau 10 năm, giảm từ 8% xuống còn 6%. Đây là mức tương đối tiên tiến so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Liên quan đến khách hàng, hiện nay chúng tôi có 32 triệu khách hàng qua các hệ thống công tơ đo đếm. 99,9% hệ thống công tơ đo đếm hiện nay là công tơ điện tử. Chúng tôi có kho dữ liệu tập trung, thu thập dữ liệu từ xa. Tất cả tổng công ty phân phối hiện nay đều có các trang web, có các ứng dụng chăm sóc khách hàng. Gần đây nhất, trong tháng 6 vừa rồi, EVN triển khai một ứng dụng chăm sóc khách hàng chung cho toàn EVN. Như vậy, người dân, doanh nghiệp có thể thông qua ứng dụng chăm sóc khách hàng này, theo mã số khách hàng của mình, để theo dõi việc sử dụng điện của cá nhân hay của doanh nghiệp.

Trên cơ sở dữ liệu đó, chúng tôi có những đánh giá, phân tích và từ đó có thể khuyến cáo khách hàng, người dân, doanh nghiệp sử dụng điện một cách tối ưu và hiệu quả hơn. Và chính trong các ứng dụng chăm sóc khách hàng của cá nhân cũng có thể đặt được các ngưỡng cảnh báo. Rất mong tất cả chúng ta có thể truy cập và sử dụng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả.

Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ nhìn thấy lợi ích của các giải pháp tiết kiệm năng lượng nhưng vẫn còn e ngại do chi phí đầu tư ban đầu khá lớn. Theo ông Đặng Hải Dũng, cần có những cơ chế gì để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho các công nghệ tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh?

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Ông Đặng Hải Dũng trao đổi về các cơ chế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Ông Đặng Hải Dũng: Nhìn chung, sau khoảng 15 năm thực hiện Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, có thể thấy doanh nghiệp đã quan tâm đến việc giảm mức độ tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí kính trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. Tuy nhiên, khi chuyển đổi công nghệ sản xuất, họ gặp một số khó khăn liên quan đến đầu tư vốn ban đầu.

Khi mua công nghệ mới, chi phí thay đổi một dây chuyền công nghệ là chi phí ban đầu. Nhiều doanh nghiệp nhìn thấy tiềm năng thì sẵn sàng, chủ động dùng nguồn vốn của họ để thay đổi công nghệ.

Tuy nhiên, với những doanh nghiệp còn gặp một số vấn đề về dòng tiền, tài sản bảo đảm, các liên quan đến tài chính... thì Luật sửa đổi bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả đã mở ra khuôn khổ pháp lý cho các vấn đề về tín dụng, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, chúng ta có thể huy động thêm công cụ tài chính. Ở đây, rất nhiều công cụ có thể sử dụng, thậm chí các ngân hàng thương mại hiện nay cũng mở ra những dòng tài chính xanh cho doanh nghiệp tiếp cận.

Một nội dung nữa liên quan đến cơ chế tài chính của Luật mới, chúng tôi đang thiết lập Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Hy vọng, dịp cuối năm, chúng ta sẽ hình thành, vận hành được Quỹ này.

Quỹ và những công cụ về tài chính sẽ là cơ sở để chúng ta thúc đẩy các công ty hỗ trợ, chúng tôi gọi là công ty dịch vụ năng lượng (ESCO). Mô hình kinh doanh ESCO này có thể hoạt động hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ về kỹ thuật và thậm chí hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.

Đặc biệt, trong thời gian tới, tôi cũng rất thống nhất với đại diện Schneider về sự thâm dụng của công nghệ, đặc biệt là AI và kỹ thuật số. Đây là một lĩnh vực khá mới và là giải pháp kỹ thuật sẽ được triển khai rộng rãi. Tôi nghĩ thị trường này khá lớn và những hỗ trợ về kỹ thuật từ kiểm toán năng lượng, các mô hình quản lý năng lượng, đào tạo nguồn nhân lực… cũng sẽ đặt ra khi tuân thủ các quy định này.

Thưa ông Đặng Nguyễn Ngữ, hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang thay đổi mạnh mẽ cách quản lý năng lượng, Schneider Electric đang ứng dụng AI, IoT và dữ liệu thời gian thực ra sao để tối ưu tiêu thụ điện trong nhà máy, tòa nhà và khu công nghiệp? Xin ông nêu một số ví dụ đã triển khai thành công tại Việt Nam!

Từ kinh nghiệm triển khai thực tế tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác, ông có kiến nghị gì về cơ chế, chính sách hoặc các chương trình hỗ trợ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào tiết kiệm năng lượng và quản trị năng lượng thông minh?

Ông Đặng Nguyễn Ngữ: Cảm ơn anh Đặng Hải Dũng về những chia sẻ vĩ mô từ góc độ quản lý của Bộ Công Thương. Đây là những chia sẻ mà doanh nghiệp chúng tôi cảm thấy rất quý với những chuyển động ở phía trước.

Lúc nãy có hai ví dụ rất vui từ anh Hải bên EVN cũng như là anh Hà Đăng Sơn. Anh Hải bên ngành điện có một trong những trăn trở rất lớn là điều hòa. Chúng ta đang có khoảng 32 triệu hộ dân sử dụng điện, thì một tải rất lớn chính là tải điều hòa không khí.

Hiểu được rằng đó là một trăn trở rất lớn của ngành điện, chúng ta có thể quay trở lại ví dụ liên quan đến việc áp dụng quy chuẩn, một bộ tiêu chuẩn như anh Hà Đăng Sơn có nói.

Chúng ta thấy, thói quen vào những giờ cao điểm, chúng ta bật điều hòa lên bao giờ cũng mong muốn đặt ở 22-23 độ, ví dụ vậy. Nhưng thực ra không nhất thiết phải thế, có thể là 25-26 độ. Bản thân một hành động nhỏ đó sẽ giúp chúng ta tiết kiệm điện rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta không có một quy chuẩn, bộ tiêu chuẩn nào cả.

Một ý tôi muốn nói đến là, nếu chúng ta có một quy chuẩn, chúng ta có thể kết hợp với các đơn vị sản xuất điều hòa không khí để có điều chỉnh về công nghệ. Làm sao để vào những quãng nắng nóng trong năm, lúc tải điện tăng lên, chúng ta có cơ chế khi bật điều hòa lên, nó tự động (automatic) cài đặt về 25-26 độ. Điều đó trong doanh nghiệp đã làm rồi. Tại sao chúng ta không làm như vậy với hộ gia đình? Nếu kết hợp giữa ngành điện, Bộ Công Thương và các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu điều hòa tại thị trường Việt Nam, chúng ta có thể có những quy định hay về mặt công nghệ hoàn toàn đơn giản để làm được việc đó.

Anh Hà Đăng Sơn cũng có nói, trung tâm dữ liệu hiện nay tiêu thụ năng lượng rất lớn, điều này cũng liên quan đến điều hòa. Hiện nay chúng ta chưa có tiêu chuẩn tương tự như các hộ dân.

Theo tôi được biết, hệ số sử dụng năng lượng trong các trung tâm dữ liệu rất lớn và một trong những tải lớn nhất chính là tải điều hòa. Tương tự như vây, hiện nay, những con chip AI hay chip server thực ra không cần nhiệt độ lạnh sâu đến mức như đang cài đặt trong hệ thống trung tâm dữ liệu. Chúng ta có thể nâng nhiệt độ điều hòa không khí lên. Thực ra, chúng ta đang lãng phí rất nhiều vì chúng ta không có tiêu chuẩn. Theo thói quen, các nhà tư vấn thiết kế hệ thống với nhiệt độ lạnh rất sâu, nhưng không nhất thiết phải như vậy.

Chúng ta cần có cơ chế phối hợp làm sao để chuẩn hóa được điều này.

Ở góc độ doanh nghiệp, chúng tôi cũng làm việc khá nhiều với các định chế tài chính, các ngân hàng. Tôi có thể khẳng định vốn không thiếu, vì rất nhiều định chế tài chính, ngân hàng đang muốn tìm nguồn để cho vay các dự án xanh, các dự án tiết kiệm năng lượng.

Là đại diện cho một tập đoàn công nghệ lớn toàn cầu, chúng tôi cũng khẳng định là công nghệ hiện nay hoàn toàn giải quyết được bài toán đó. Công nghệ không phải là rào cản, vốn cũng không phải là rào cản. Cho nên tôi rất vui khi nghe anh Dũng nói về kế hoạch tạo ra một cơ chế nào đó để các định chế tài chính, các công ty công nghệ có thể giải quyết bài toán đó cho người sử dụng cuối (end-user).

Tại Việt Nam chúng ta, rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu trong việc này. Chúng tôi khẳng định lại là không riêng gì Schneider mà ngay cả các công ty trong lĩnh vực này có công nghệ từ AI, IoT... Hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể quản lý theo thời gian thực để tối ưu hóa hệ thống. Thực ra rất nhiều định chế tài chính đang tìm cách giải ngân cho các dự án như thế mà lại thiếu một "nhạc trưởng".

Quay trở lại với câu hỏi, Schneider Electric đang làm gì ở Việt Nam? Dù không tiện nêu chi tiết, nhưng ví dụ trong lĩnh vực hàng không, hầu như tất cả các sân bay ở Việt Nam hiện nay, Schneider Electric đều đang áp dụng IoT để quản lý hệ thống năng lượng, tự động hóa theo thời gian thực. Chúng tôi cũng đồng hành cùng các doanh nghiệp trong chuyển đổi số, số hóa và quản lý tập trung theo thời gian thực.

Ngay cả trong phần công nghiệp cũng thế, chúng tôi có những hệ thống nhà máy thông minh (Smart Factory) hay tòa nhà thông minh (Smart Building), áp dụng AI theo thời gian thực.

Xin khẳng định một lần nữa với tất cả quý vị, với sự phát triển công nghệ nhanh như hiện nay, nếu trước đây chúng ta tính toán hoàn vốn (Return on Investment) khi đầu tư bằng đơn vị 5-10 năm, thì với khả năng công nghệ hiện tại, thời gian hoàn vốn đang được tính bằng đơn vị đâu đó mức 2 năm. Chúng ta hoàn toàn chủ động về mặt công nghệ cũng như nguồn vốn.

Thông điệp và giải pháp thời gian tới

TỔNG THUẬT Tọa đàm

Các khách mời tham dự Tọa đàm chia sẻ về thông điệp tiết kiệm năng lượng - Ảnh: VGP/Minh Khôi

Trước khi kết thúc chương trình, xin các vị khách mời gửi một thông điệp ngắn tới người dân và doanh nghiệp trong mùa cao điểm nắng nóng năm nay!

Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công Đặng Hải Dũng: Tôi nghĩ tiết kiệm năng lượng bây giờ ở Việt Nam và trên thế giới đã trở thành xu thế bắt buộc. Các thị trường cũng đều yêu cầu phải tiết kiệm năng lượng bằng các chính sách cụ thể về thuế, về hệ thống như ETS (Emission Trading System – Hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải). Dù muốn hay không, chúng ta vẫn phải thực hiện vì Việt Nam đã nằm trong chuỗi cung ứng của kinh tế toàn cầu. Cho nên tiết kiệm năng lượng là xu thế tất yếu. Tôi cũng mong muốn được đồng hành với tất cả các bên liên quan, từ người dân, đơn vị cung ứng năng lượng, các đơn vị cung cấp giải pháp, kể cả các tổ chức tài chính, bởi chúng ta cùng một mục tiêu là đảm bảo an ninh năng lượng và cạnh tranh quốc gia trong giao thương trên thị trường quốc tế.

Phó Tổng Giám đốc EVN Ngô Sơn Hải: Chúng tôi mong muốn nhận thức về tiết kiệm điện trở thành trách nhiệm và ý thức, và hơn nữa phải trở thành văn hóa đối với từng gia đình, cơ quan, doanh nghiệp và toàn thể cộng đồng; để mỗi hành động nhỏ có thể góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như phát triển bền vững ngành điện Việt Nam.

Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh Hà Đăng Sơn: Tôi nghĩ việc đầu tiên là mỗi người dân nên cài ứng dụng để theo dõi mức dùng điện hằng ngày, hằng tháng như thế nào, qua đó nắm được mức tiêu thụ điện của gia đình.

Thứ hai, trong quá trình sử dụng điện, nhất là điều hòa không khí, đặt nhiệt độ điều hòa ở mức phù hợp (khoảng 26 độ C), kết hợp dùng quạt, từ đó mang lại hiệu quả cao trong việc làm mát mà không bị tốn nhiều điện.

Một điều quan trọng nữa là phải kiểm soát được bức xạ nhiệt đi vào phòng. Nếu dùng điều hòa mà mở cửa hay để cho nắng chiếu vào thì hiệu quả làm mát của điều hòa sẽ giảm. Chúng ta có thể sử dụng rèm che, rèm chắn nắng, giúp giảm tiền điện.

Ngoài ba giải pháp trên, nếu hộ gia đình có điều kiện có thể lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống pin lưu trữ theo tinh thần Chỉ thị 20/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu thì rất tốt.

Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia Đặng Nguyễn Ngữ: Chúng tôi cam kết đồng hành với Chính phủ, Bộ Công Thương, đặc biệt là đồng hành cùng với EVN trong việc tiết kiệm cũng như sử dụng năng lượng, điện hiệu quả.

Chúng tôi cũng rất mong muốn Chính phủ cũng như là EVN sẽ tạo ra cơ chế để điều phối, bởi trong xã hội cũng như quốc gia, có rất nhiều phân mảnh, từ đó cần một "nhạc trưởng". Bộ Công Thương và EVN cần đóng vai trò 'nhạc trưởng'.

Chúng tôi cũng đang rất nỗ lực để có thể đưa các công nghệ mới, có tính ứng dụng cao vào thực tiễn, từ đó đóng góp vào sự phát triển của quốc gia trong thời gian tới.

Qua những trao đổi tại Tọa đàm hôm nay, có thể thấy bảo đảm điện cho phát triển đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, nhu cầu điện tiếp tục gia tăng cùng với yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bài toán an ninh năng lượng không chỉ là phát triển thêm nguồn điện sạch mà còn là sử dụng điện hiệu quả hơn.

Tiết kiệm điện vì thế không còn là giải pháp mang tính thời điểm hay chỉ là trách nhiệm của riêng ngành điện, mà phải trở thành ý thức, hành động thường xuyên của toàn xã hội và mỗi người, mỗi tập thể, mỗi gia đình. Từ hoàn thiện cơ chế, chính sách; đầu tư hạ tầng và công nghệ; đến đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh và thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng trong việc giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia.

Bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Mỗi kilowatt giờ điện được sử dụng hiệu quả hôm nay sẽ góp phần củng cố an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững của đất nước, vì hạnh phúc, ấm no của mỗi người dân./.

Tham khảo thêm
Tọa đàm: "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp"Tọa đàm:

Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/tong-thuat-toa-dam-tiet-kiem-dien-mua-cao-diem-trach-nhiem-va-giai-phap-a266667.html