Tháo gỡ điểm nghẽn dữ liệu vùng trồng cho xuất khẩu lâm sản

(Chinhphu.vn) - Từ một quốc gia phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 5 thế giới về xuất khẩu lâm sản. Bài toán cấp bách hiện nay là phải tháo gỡ "điểm nghẽn" về dữ liệu vùng trồng để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh toàn cầu, đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn phục vụ chế biến sâu.

Tháo gỡ điểm nghẽn dữ liệu vùng trồng cho xuất khẩu lâm sản- Ảnh 1.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - Ảnh: VCCI

Chuyển đổi mô hình gỗ lớn: Chìa khóa nâng tầm giá trị gia tăng

Hiện nay ngành gỗ đang đối mặt với nghịch lý: Việt Nam có diện tích rừng trồng lớn nhưng vẫn thiếu nguyên liệu chất lượng cao cho chế biến sâu. Phần lớn diện tích rừng hiện nay là gỗ keo chu kỳ ngắn (3-4 năm), chất lượng kém, chỉ phù hợp làm dăm gỗ hoặc viên nén có giá trị gia tăng thấp.

Tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" ngày 23/7/2026, ông Phạm Đình Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Triệu Thái Sơn cho biết, cùng khoảng 3 tấn keo tươi, nếu xuất khẩu dưới dạng dăm gỗ chỉ tạo giá trị khoảng 3 triệu đồng; chế biến thành viên nén đạt khoảng 6 triệu đồng; nhưng khi đưa vào sản xuất ván ép và đồ nội thất, giá trị có thể vượt 20 triệu đồng. Theo ông Thắng, việc duy trì mô hình rừng gỗ nhỏ đang khiến tài nguyên rừng chưa được khai thác hiệu quả.

Đồng quan điểm, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho rằng ngành gỗ cần chuyển từ tư duy phát triển dựa trên sản lượng sang tạo giá trị gia tăng. Điều đó đòi hỏi kéo dài chu kỳ trồng rừng để hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn, đáp ứng nhu cầu chế biến sâu và nâng cao sức cạnh tranh.

Để thúc đẩy chuyển đổi, ông Đoàn Văn Tỉnh, Chủ tịch HĐQT Công ty MDF Mekong, đề xuất nghiên cứu điều chỉnh chính sách xuất khẩu dăm gỗ theo hướng tăng thuế hoặc áp dụng hạn ngạch nhằm ưu tiên nguồn nguyên liệu cho chế biến trong nước. Theo ông, hiện thuế xuất khẩu dăm gỗ chỉ ở mức 2% và còn được hoàn thuế, trong khi nhiều sản phẩm chế biến sâu chịu thuế 8-10%, tạo bất lợi cho doanh nghiệp đầu tư chế biến.

Theo các chuyên gia, phát triển vùng nguyên liệu bền vững không thể chỉ dựa vào doanh nghiệp hay người trồng rừng mà cần một cơ chế liên kết chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên. PGS.TS. Lý Tuấn Trường, Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất (Trường Đại học Lâm nghiệp), cho rằng cần chuyển từ tư duy "chuỗi cung ứng" sang xây dựng "hệ sinh thái" ngành gỗ.

Trong đó, Nhà nước đóng vai trò hoàn thiện thể chế và tạo môi trường đầu tư ổn định; doanh nghiệp không chỉ thu mua mà cần đồng hành với người trồng rừng thông qua hỗ trợ giống, kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm; còn người dân cần được tiếp cận tín dụng xanh, khoa học công nghệ và các chứng chỉ quản lý rừng bền vững như FSC, PEFC. Bên cạnh đó, dữ liệu về tài nguyên rừng, vùng trồng và phát thải carbon cần được số hóa, kết nối trên cùng một nền tảng để phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc.

Tháo gỡ điểm nghẽn dữ liệu vùng trồng cho xuất khẩu lâm sản- Ảnh 2.

Phát triển nguyên liệu bền vững không thể là nỗ lực đơn lẻ của doanh nghiệp hay người trồng rừng - Ảnh minh họa

Số hóa dữ liệu vùng trồng: "Hộ chiếu" để vượt rào cản xanh

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh, số hóa dữ liệu vùng trồng được xem là điều kiện tiên quyết để ngành gỗ duy trì và mở rộng thị trường. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026, yêu cầu các mặt hàng nông, lâm sản nhập khẩu phải truy xuất được nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất.

Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ NN&MT), cho biết các thị trường lớn hiện không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu chứng minh nguồn gốc hợp pháp và khả năng truy xuất đến từng lô rừng. Đây chính là "hộ chiếu xanh" quyết định khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

Đáp ứng yêu cầu này, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành lâm nghiệp thời gian tới là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa đến từng lô rừng, đáp ứng các tiêu chuẩn của EUDR và các thị trường xuất khẩu lớn.

Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI, dư địa tăng trưởng của ngành gỗ trong giai đoạn tới sẽ không còn dựa vào mở rộng quy mô mà phụ thuộc vào chất lượng tăng trưởng, năng suất và khả năng đáp ứng các yêu cầu về chống mất rừng, giảm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu dùng xanh.

6 tháng cuối năm 2026 được xem là giai đoạn quan trọng để ngành gỗ tăng tốc chuyển đổi. Nếu đồng thời giải quyết được hai điểm nghẽn lớn là phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn và xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc, Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm chế biến gỗ xanh và sản xuất nội thất chất lượng cao của thế giới.

Theo các chuyên gia, ngành gỗ cần chuyển mạnh từ tư duy "đủ nguyên liệu" sang "nguyên liệu hợp pháp, bền vững", đồng thời từ xuất khẩu gỗ đơn thuần sang xuất khẩu giá trị, thương hiệu và hệ sinh thái sản xuất xanh. Đây sẽ là nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng và củng cố vị thế của ngành gỗ Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Đỗ Hương

Tham khảo thêm
Chính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm gỗChính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm gỗ
Tham khảo thêm
Vật liệu gỗ xây dựng: Góc nhìn từ thị trường nguyên liệu đến chiến lược lâm nghiệpVật liệu gỗ xây dựng: Góc nhìn từ thị trường nguyên liệu đến chiến lược lâm nghiệp
Tham khảo thêm
Ngành Gỗ vượt khó, tạo giá trị kỷ lụcNgành Gỗ vượt khó, tạo giá trị kỷ lục

Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/thao-go-diem-nghen-du-lieu-vung-trong-cho-xuat-khau-lam-san-a270510.html