
Nông dân xã Khánh Bình tiếp tục chọn quy trình mới vì công việc nhẹ hơn, chi phí giảm và lợi nhuận được cải thiện - Ảnh: VGP/LS
Câu chuyện của gia đình ông ông Trương Thanh Hà (xã Định Mỹ, tỉnh An Giang) phản ánh trăn trở lớn của Đồng bằng sông Cửu Long: Điều gì có thể giữ người dân gắn bó với ruộng đồng khi thu nhập còn bấp bênh, chi phí đầu vào, thời tiết, dịch bệnh và đầu ra luôn nhiều rủi ro?
Ông Hà từng là người hoài nghi mạnh mẽ trước cách sản xuất mới khi các kỹ sư khuyên giảm lượng giống, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Nhưng sau khi tham gia hợp tác xã, được đội ngũ kỹ sư đồng hành và tự kiểm chứng kết quả trên ruộng, sự dè dặt dần được thay bằng niềm tin. Năng suất vẫn được bảo đảm, chi phí giảm, công việc nhẹ hơn; theo tính toán của ông, lợi nhuận tăng khoảng 3 triệu đồng/ha, tương đương khoảng 10% so với cách làm trước.
Tuy nhiên, ông Hà cũng không nhìn tương lai chỉ bằng gam màu sáng. Điều ông mong nhất vẫn là giá lúa và giá vật tư bớt biến động. Có thời điểm giá lúa cao vào đầu vụ nhưng đến khi thu hoạch rộ lại giảm, trong khi phân bón và thuốc bảo vệ thực vật thường tăng ngay lúc nông dân cần mua. Nỗi lo ấy cho thấy giảm chi phí trên đồng ruộng mới chỉ giải quyết được một phần bài toán; để người dân yên tâm gắn bó lâu dài, chuỗi liên kết còn phải giúp họ giảm rủi ro thị trường và giữ được phần lợi nhuận xứng đáng.
Không chờ đủ điều kiện mới bắt đầu
Ở Cà Mau, việc mở rộng mô hình gặp những khó khăn khác với An Giang hay Đồng Tháp. Nhiều vùng sản xuất nằm cuối nguồn, chịu tác động của xâm nhập mặn, hạn hán, triều cường; hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh nên việc điều tiết nước ngập-khô xen kẽ không phải nơi nào cũng thực hiện thuận lợi. Nếu chờ đến khi mọi điều kiện đều đầy đủ mới bắt đầu, người nông dân có thể phải tiếp tục sản xuất theo cách cũ trong nhiều năm.
Ông Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau, cho rằng những vùng đủ điều kiện cần được triển khai trước, sau đó từng bước mở rộng diện tích của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao sang khu vực khác. Nơi chưa thể áp dụng toàn bộ quy trình vẫn có thể bắt đầu bằng những phần phù hợp như giảm lượng giống, giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, lựa chọn giống ngắn ngày và bố trí thời vụ thích ứng với điều kiện tự nhiên. Theo ông, không nên cầu toàn phải có đủ 100% điều kiện của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao ngay từ đầu, bởi những thay đổi vừa sức nhưng mang lại hiệu quả thực tế sẽ giúp người dân có thêm niềm tin để đi tiếp.
Cách tiếp cận ấy cũng có nghĩa Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không thể được nhân rộng bằng cách sao chép nguyên trạng một mô hình từ địa phương này sang địa phương khác. Mỗi vùng phải lựa chọn quy trình phù hợp với đất đai, nguồn nước, tập quán sản xuất, năng lực của hợp tác xã và khả năng liên kết thị trường. Nhưng ông Nguyễn Trần Thức nhấn mạnh rằng dù linh hoạt đến đâu, bốn yếu tố vẫn không thể thiếu: Tổ chức lại sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị, ứng dụng chuyển đổi số và bảo đảm quyền lợi hài hòa giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp.
Ở An Giang, ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cũng cho rằng việc nhân rộng phải dựa trên những mô hình chứng minh được hiệu quả kinh tế. Chính quyền cần đầu tư hạ tầng, thúc đẩy chuyển đổi số và hoàn thiện chính sách hỗ trợ; các hợp tác xã phải được củng cố để đủ sức tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và liên kết với doanh nghiệp. Nhưng điều có sức thuyết phục nhất vẫn là kết quả ngay trên ruộng: Một mô hình có lợi nhuận rõ ràng luôn lan tỏa mạnh hơn những cuộc tuyên truyền chỉ dừng ở lý thuyết.
Vai trò của chính quyền cấp xã vì thế không kết thúc sau khi vận động nông dân đăng ký diện tích. Ông Lê Hữu Toàn nhận xét nơi nào cấp xã năng động, thể hiện rõ trách nhiệm, nơi đó việc phối hợp với hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn thường thông suốt hơn. Cách làm ở Khánh Bình cho thấy khi trách nhiệm tổ chức được đưa về sát cánh đồng, những vấn đề về thủy lợi, lịch thời vụ, hợp đồng, vật tư hay tiêu thụ có thể được nhận diện và xử lý sớm hơn.

Khi cánh đồng đổi mới và người trồng lúa có thể sống khấm khá trên chính mảnh ruộng của mình, cuộc chuyển đổi ấy mới thực sự đi đến đích mọi người mong muốn - Ảnh: VGP/LS
Không để nông dân đứng ngoài giá trị xanh
Một chương trình có thể tạo nên những cánh đồng trình diễn đẹp trong một vài vụ, nhưng chưa chắc đã tạo ra phương thức sản xuất bền vững. Thước đo quan trọng không nằm ở số lớp tập huấn hay số thiết bị được đưa xuống đồng, mà ở việc sau khi sự hỗ trợ giảm đi, người nông dân có tiếp tục duy trì cách làm mới bằng chính lợi ích thu được hay không.
Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời, cho rằng điều đáng mừng nhất không phải diện tích đã triển khai mà là niềm tin của người nông dân đối với mô hình. Mô hình chỉ thực sự có khả năng tự lan rộng khi nông dân tự nguyện tiếp tục tham gia, rồi chính họ trở thành người giới thiệu cách làm mới cho những hộ còn đứng ngoài.
Để sự tự nguyện ấy được duy trì, vùng nguyên liệu phải vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh, thay vì tập hợp những chương trình hỗ trợ rời rạc. Chính quyền phải tổ chức sản xuất; hợp tác xã tập hợp nông dân; doanh nghiệp đầu tư công nghệ, dịch vụ và thị trường; ngân hàng hỗ trợ tài chính; nhà khoa học chuyển giao kỹ thuật. Khi một mắt xích đứng ngoài hoặc chỉ tham gia trong thời gian ngắn, chuỗi liên kết rất dễ đứt gãy sau vài mùa vụ.
Điều đó cũng đòi hỏi từng chủ thể phải thay đổi cách làm. Doanh nghiệp không thể chỉ đến mua lúa khi vụ mùa sắp kết thúc; hợp tác xã không thể chỉ đứng tên trên hợp đồng; chính quyền không thể dừng ở việc giao chỉ tiêu diện tích. Người nông dân cũng phải tuân thủ quy trình, giữ cam kết với vùng nguyên liệu và doanh nghiệp, thay vì phá vỡ liên kết khi thị trường xuất hiện biến động ngắn hạn.
Theo ông Huỳnh Văn Thòn, bốn nền tảng để Đề án đi xa là tổ chức sản xuất thông qua hợp tác xã, liên kết chặt với thị trường, ứng dụng khoa học-công nghệ và xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa. Chỉ khi tất cả các bên đều nhìn thấy phần lợi ích tương xứng với trách nhiệm và rủi ro của mình, mô hình mới có thể tự vận hành bằng hiệu quả kinh tế thay vì phụ thuộc lâu dài vào hỗ trợ.

Nông dân và kỹ sư cùng trao đổi trên cánh đồng và kiểm tra kết quả của mô hình Đề án 1 triệu hta lúa tại xã Vĩnh An, tỉnh An Giang - Ảnh: VGP/LS
Khi hạt lúa được sản xuất theo quy trình chất lượng cao, có thể truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải, giá trị tạo ra không còn chỉ được tính bằng năng suất hay giá bán tại ruộng. Nó còn đến từ chất lượng sản phẩm, thương hiệu, khả năng tiếp cận thị trường cao cấp, dữ liệu sản xuất minh bạch và trong tương lai có thể cả tín chỉ carbon.
Theo ông Lê Hữu Toàn, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và từng bước tiếp cận thị trường tín chỉ carbon. Nhưng mục tiêu xuyên suốt vẫn phải là giúp nông dân giảm chi phí, nâng hiệu quả và tăng thu nhập. Nếu giá trị từ chất lượng hoặc giảm phát thải chỉ được ghi nhận ở khâu chế biến, xuất khẩu, trong khi người trực tiếp tuân thủ quy trình không nhận được phần tương xứng, chuỗi liên kết sẽ khó tồn tại bền vững.
Ông Huỳnh Văn Thòn cũng cho rằng nông dân phải được đặt ở trung tâm của toàn bộ chuỗi giá trị. Muốn xây dựng vùng nguyên liệu lớn, ổn định và đạt chuẩn, trước hết phải giúp người trồng lúa có thu nhập tốt hơn. Khi nhìn thấy lợi nhuận, được chia sẻ phần giá trị tăng thêm và giảm bớt rủi ro, họ mới sẵn sàng thay đổi tập quán, tiếp nhận kỹ thuật mới và gắn bó lâu dài.
Carbon vì thế chỉ là một phần trong hệ giá trị mới của cánh đồng, không phải đích đến duy nhất. Điều quan trọng hơn là phải xác định rõ ai tạo ra phần giá trị ấy, ai đứng ra đo đếm, xác nhận, giao dịch và người nông dân sẽ được hưởng lợi theo cơ chế nào. Nếu những câu hỏi này không được giải quyết minh bạch, người trồng lúa có nguy cơ tiếp tục đứng ngoài một thị trường được hình thành từ chính những thay đổi họ thực hiện trên mảnh ruộng của mình.
Thành công của Đề án vì thế không thể chỉ đo bằng diện tích được công nhận hay số công nghệ được áp dụng. Thước đo quan trọng hơn là số chi phí người dân tiết kiệm được, mức lợi nhuận giữ lại sau mỗi vụ, khả năng chống đỡ trước biến động thị trường và phần giá trị mới thực sự quay trở lại với cộng đồng sản xuất.
Sống khấm khá hơn mới là đích đến
Nhìn lại sự thay đổi của ông Trương Thanh Hà, từ chỗ sản xuất theo kinh nghiệm chuyển sang tuân thủ quy trình; từ hộ riêng lẻ sang tham gia hợp tác xã; từ người hoài nghi trở thành người nói với những nông dân khác về hiệu quả mình đã kiểm chứng, chúng ta thấy rất rõ, cuộc chuyển đổi hiện lên từ sự thay đổi trong suy nghĩ của một người nông dân, lan ra cả cánh đồng, được tổ chức bởi hợp tác xã, kỹ sư, doanh nghiệp và chính quyền, rồi kết nối với thị trường bằng một chuỗi giá trị mới. Mỗi mắt xích đều quan trọng, nhưng tất cả chỉ thực sự có ý nghĩa khi kết quả cuối cùng được nhìn thấy trong đời sống người trồng lúa.
Đề án 1 triệu ha vì thế không chỉ nhằm tạo ra một vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Sâu xa hơn, đó là cuộc tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Từ riêng lẻ sang hợp tác, từ chạy theo năng suất sang coi trọng hiệu quả, từ bán lúa thô sang tham gia chuỗi giá trị, từ phụ thuộc vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên quy trình và dữ liệu.
Để ngày càng nhiều nông dân có cùng lựa chọn, Đề án phải giúp họ làm nông bớt nhọc nhằn, giảm rủi ro, nâng thu nhập và có niềm tin vào tương lai của nghề trồng lúa.
Khi cánh đồng đổi mới và người trồng lúa có thể sống khấm khá trên chính mảnh ruộng của mình, cuộc chuyển đổi ấy mới thực sự đi đến đích mọi người mong muốn.
Lê Sơn
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/bai-5-de-an-1-trieu-ha-lua-chat-luong-cao-mo-hinh-phai-song-duoc-bang-hieu-qua-a270544.html