
Chân đế giàn WHP-DHN thuộc Dự án phát triển mỏ Đại Hùng - Khu vực Đại Hùng Nam tại cảng Vietsopetro
Mỏ Đại Hùng (Lô 05-1A, bồn trũng Nam Côn Sơn) nằm ở vùng nước sâu 110-120 m, cách Vũng Tàu khoảng 265 km. Đây là một trong những mỏ dầu có điều kiện địa chất phức tạp nhất Việt Nam, với cấu trúc bị chia cắt mạnh bởi hệ thống đứt gãy, địa tầng đa dạng và điều kiện khai thác nhiều rủi ro. Chính những yếu tố này khiến nhiều nhà thầu dầu khí quốc tế sau thời gian đầu khai thác đã đánh giá mỏ không còn hiệu quả và quyết định rút lui.
Thay vì đóng mỏ, Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) giao Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) tiếp nhận và tổ chức nghiên cứu lại toàn diện. Quyết định này mở đầu cho một hành trình kéo dài hơn hai thập kỷ, trong đó đội ngũ nhà khoa học và kỹ sư Việt Nam từng bước xây dựng hệ thống giải pháp công nghệ "may đo" riêng cho Đại Hùng, thay vì áp dụng rập khuôn các mô hình quốc tế vốn không phù hợp với điều kiện của một mỏ cận biên.
Hệ thống giải pháp tích hợp để "hồi sinh" mỏ dầu
Điểm nổi bật của công trình là xây dựng thành công một hệ thống giải pháp khoa học - công nghệ tích hợp đa ngành, bao gồm công nghệ địa chất - địa vật lý, công nghệ khoan và hoàn thiện giếng, công nghệ mỏ và nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), công nghệ công trình biển và chuyển đổi số. Đây là chuỗi giải pháp xuyên suốt từ nghiên cứu đến triển khai, tạo nên nền tảng công nghệ đồng bộ cho toàn bộ quá trình khai thác.
Sau khi tiếp nhận mỏ, các kỹ sư Việt Nam đã tái thiết toàn bộ cơ sở dữ liệu địa chất, xây dựng lại mô hình mỏ, nghiên cứu đặc điểm của từng thân chứa và từng hệ thống đứt gãy. Trên cơ sở đó, nhiều giải pháp công nghệ mới được triển khai trong nghiên cứu địa chất, khoan định hướng, hoàn thiện giếng và quản trị khai thác. Nhờ vậy, Đại Hùng từng bước được khôi phục, mở rộng phát triển và vận hành ổn định. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, thiết kế, triển khai và vận hành đều do đội ngũ chuyên gia Việt Nam thực hiện.
Một trong những điểm nhấn công nghệ là việc chuyển đổi mô hình phát triển mỏ từ hệ thống giếng ngầm dưới đáy biển (Subsea) sang giàn đầu giếng cố định kết nối với giàn xử lý trung tâm. Cùng với đó là việc ứng dụng các mô hình địa chất hiện đại, công nghệ địa chấn tiên tiến, khoan định hướng LWD, hệ thống hoàn thiện giếng thông minh và quản trị khai thác dựa trên dữ liệu số. Những giải pháp này giúp tối ưu đầu tư, nâng cao hiệu quả khai thác và kéo dài vòng đời của mỏ.
Đến hết năm 2025, mỏ Đại Hùng đạt doanh thu lũy kế hơn 4,5 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước trên 650 triệu USD và ghi dấu mốc chuyến xuất bán dầu thứ 200. Không chỉ tạo hiệu quả kinh tế lớn, sự hiện diện của các công trình dầu khí tại vùng biển xa còn góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia và hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển.

GS.TS Dương Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Giá trị cốt lõi của công trình không nằm ở những con số doanh thu mà ở năng lực khoa học - công nghệ
Giá trị nằm ở năng lực làm chủ công nghệ
Theo GS.TS Dương Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, giá trị cốt lõi của công trình không nằm ở những con số doanh thu mà ở năng lực khoa học - công nghệ được hình thành trong suốt quá trình chinh phục một mỏ dầu đặc biệt phức tạp.
Ông cho biết đã theo dõi Đại Hùng từ đầu những năm 1990, khi các đối tác nước ngoài còn triển khai dự án. Chính vì vậy, ông càng thấy rõ ý nghĩa của việc đội ngũ kỹ sư Việt Nam tiếp quản và đưa mỏ trở lại khai thác thành công sau khi nhiều nhà đầu tư quốc tế rút lui.
Theo GS.TS Dương Ngọc Hải, nếu chỉ áp dụng máy móc các mô hình công nghệ sẵn có thì sẽ không thể giải quyết được bài toán của Đại Hùng. Thành công của công trình đến từ việc các nhà khoa học Việt Nam chủ động nghiên cứu lại toàn bộ đặc điểm địa chất, xây dựng các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của mỏ. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị của trí tuệ và năng lực khoa học - công nghệ trong nước.
Ông cũng đánh giá cao cách tiếp cận nghiên cứu của nhóm tác giả khi vẫn sử dụng các công cụ phân tích địa chấn và mô hình hóa hiện đại của thế giới, nhưng điều quyết định là tư duy khoa học và phương pháp ứng dụng phù hợp với điều kiện đặc thù của Đại Hùng.
Theo ông, nếu mỏ Bạch Hổ từng giúp Việt Nam có niềm tin rằng người Việt Nam có thể làm chủ công nghệ khai thác dầu khí, thì Đại Hùng là minh chứng cho thấy người Việt Nam có thể tạo ra những đột phá, đạt trình độ tương đương các công ty dầu khí quốc tế trong xử lý những mỏ có điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp.

PGS.TS Nguyễn Xuân Thảo, Chủ tịch Hội Công nghệ Khoan - Khai thác Việt Nam: Mỏ Đại Hùng là một công trình khoa học - công nghệ hoàn chỉnh, bao quát toàn bộ chuỗi nghiên cứu từ lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Xuân Thảo, Chủ tịch Hội Công nghệ Khoan - Khai thác Việt Nam, cho rằng mỏ Đại Hùng là một công trình khoa học - công nghệ hoàn chỉnh, bao quát toàn bộ chuỗi nghiên cứu từ lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn.
Theo ông, công trình không chỉ ứng dụng các thành tựu khoa học hiện có mà còn thể hiện rõ sự sáng tạo trong việc giải quyết các bài toán thực tế. Giá trị của công trình không chỉ được đo bằng hiệu quả kinh tế mà còn ở dấu ấn khoa học để lại trong việc chinh phục một mỏ dầu có điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp.
Ông nhấn mạnh, dù công tác nghiên cứu địa chất hiện đại đến đâu thì cuối cùng vẫn phải được kiểm chứng bằng thực tiễn khoan. Chính quá trình khoan đã cung cấp dữ liệu để hoàn thiện các giải pháp khai thác. Thành công của Đại Hùng cho thấy sự phát triển đồng bộ từ nghiên cứu địa chất, công nghệ khoan đến hạ tầng kỹ thuật và tổ chức khai thác.
Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Thảo, việc người Việt Nam làm chủ công nghệ và khai thác hiệu quả một mỏ có điều kiện địa chất phức tạp như Đại Hùng là minh chứng rõ nét cho năng lực khoa học và công nghệ của ngành dầu khí Việt Nam.
Anh Thơ
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/gia-tri-khoa-hoc-cong-nghe-viet-tu-cong-trinh-mo-dai-hung-a271417.html