Sửa 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng: Bảo vệ khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính

(Chinhphu.vn) - Sáng nay (9/8), trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, các đại biểu Quốc hội khóa XVI đã cùng thảo luận tại Hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, Luật phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15.

Sửa 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng: Bảo vệ khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính- Ảnh 1.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên thảo luận tại Hội trường về các luật thuộc lĩnh vực ngân hàng, sáng 9/8 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Các luật trên được xây dựng nhằm xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy; khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền theo các khuyến nghị quốc tế; đồng thời tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước.

Luật cũng tạo cơ sở để Ngân hàng Nhà nước thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của thành viên tại các tổ chức tiền tệ quốc tế, thể chế hóa chủ trương tăng trưởng hai con số, phát triển thị trường vốn và giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Sửa 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng: Bảo vệ khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính- Ảnh 2.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Thường trực Ban Bí thư Trần Cầm Tú tham dự phiên thảo luận tại Hội trường Quốc hội sáng nay (9/8) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Cần có giới hạn và cơ chế kiểm soát phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng

Đối với 3 dự án luật, đã có 52 ý kiến của đại biểu Quốc hội tại tổ và bằng văn bản, cùng 13 ý kiến phát biểu tại Hội trường trong ngày hôm nay. Các ý kiến đều thể hiện tinh thần tâm huyết, trách nhiệm và cơ bản tán thành cao đối với 3 dự án luật.

Về nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhiều đại biểu tán thành việc bổ sung trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong lập, theo dõi, phân tích trạng thái đối ngoại quốc tế. Một số đại biểu đề nghị giải thích khái niệm này rõ ràng, dễ hiểu hơn. Hệ thống thu thập số liệu về trạng thái đối ngoại quốc tế cần được kết nối đồng bộ, giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm chia sẻ dữ liệu và bảo mật thông tin.

Về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều đại biểu tán thành việc luật hóa các quy định hiện hành, đồng thời đề nghị làm rõ phạm vi các trường hợp được phép sử dụng ngoại hối, thẩm quyền quy định và việc xử lý thống nhất với Điều 22 của Pháp lệnh Ngoại hối, bảo đảm quy định rõ ràng, tránh lạm quyền và phát sinh cách hiểu khác nhau trong thực tiễn.

Về cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, các ý kiến tập trung vào cơ chế thu, chi; xác định kết quả tài chính; trích lập, sử dụng các quỹ, nhất là việc xử lý chênh lệch chi lớn hơn thu của các năm trước, bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của ngân hàng trung ương và thống nhất với pháp luật về ngân sách nhà nước.

Đối với việc áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác với mức quy định, đây là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm cả tại phiên thảo luận tổ và tại Hội trường. Một số ý kiến cho rằng mục tiêu thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội có phạm vi rộng, nội hàm chưa rõ, tiềm ẩn nguy cơ hạ chuẩn an toàn của hệ thống ngân hàng.

Do đó, cơ quan soạn thảo cần rà soát, chỉnh lý, làm rõ thẩm quyền, đối tượng, trường hợp, phạm vi, điều kiện, tiêu chí, thời hạn áp dụng, trình tự, thủ tục; quy định về công khai báo cáo, kiểm tra, giám sát và lộ trình trở lại mức an toàn; đồng thời cân nhắc chỉ áp dụng trong trường hợp thực sự cần thiết.

Các đại biểu cũng lưu ý cần có giới hạn và cơ chế kiểm soát phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Về sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, các ý kiến cơ bản thống nhất sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo các khuyến nghị quốc tế, đồng thời lưu ý bảo đảm tính khả thi. Các đại biểu góp ý về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi; nhận biết, xác minh khách hàng; yêu cầu báo cáo giao dịch đáng ngờ; phạm vi trách nhiệm của đối tượng báo cáo; cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Đối với tài sản mã hóa, các ý kiến tập trung vào tính rõ ràng, khả thi và khả năng cập nhật của các dấu hiệu đáng ngờ, cũng như điều kiện về dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực để thực hiện.

Liên quan đến sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, đối với quy định ngân hàng thương mại là đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp, đa số ý kiến tán thành chủ trương, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này, nhất là về quyền, nghĩa vụ của ngân hàng đại lý; quản lý, tách bạch tài sản bảo đảm; kiểm soát xung đột lợi ích và phân định với bảo lãnh thanh toán.

Ngoài các nội dung trên, đại biểu Quốc hội cũng góp ý về việc mở và thực hiện giao dịch trên tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước; tổ chức thanh tra, giám sát ngân hàng; bãi bỏ một số trách nhiệm kiểm tra của Bộ Tài chính; thời hạn lưu trữ hồ sơ; bảo vệ người cung cấp thông tin; cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu; quy định chuyển tiếp, hiệu lực thi hành và một số nội dung kỹ thuật lập pháp cụ thể của dự thảo các luật.

Sửa 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng: Bảo vệ khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính- Ảnh 3.

Đại biểu Lê Thị Thúy Sen (Hưng Yên) đóng góp ý kiến tại phiên thảo luận - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý đưa vốn ra nền kinh tế

Góp ý cụ thể về 3 dự án luật, đại biểu Lê Thị Thúy Sen (Hưng Yên) đề nghị làm rõ 3 vấn đề trên nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thiết kế chính sách liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Thứ nhất, về các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, đại biểu cho rằng vấn đề này liên quan trực tiếp đến chủ quyền tiền tệ quốc gia và yêu cầu chống đô la hóa nền kinh tế. Theo kinh nghiệm quốc tế, việc sử dụng ngoại tệ cần được quản lý trên cơ sở nguyên tắc ổn định, chặt chẽ, nhưng cũng phải có cơ chế linh hoạt để đáp ứng nhu cầu thương mại, lợi ích quốc gia, mục tiêu phát triển kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ và các cam kết quốc tế trong từng thời kỳ.

Đại biểu đồng tình với dự thảo theo hướng trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trên hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức khác không được sử dụng ngoại hối.

Để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, đại biểu đề nghị giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể các trường hợp được sử dụng ngoại tệ. Theo đại biểu, cách thiết kế này vừa bảo đảm nguyên tắc về chủ quyền tiền tệ, vừa tạo sự linh hoạt trong ứng phó với những biến động về thương mại, kinh tế, điều hành chính sách, cam kết quốc tế và thực tiễn phát sinh; đồng thời vẫn chịu sự giám sát của các cơ quan chức năng.

Thứ hai, về việc cho phép áp dụng một số tỷ lệ an toàn khác với mức quy định để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu cho rằng đây là cơ chế cần thiết trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế.

Theo đại biểu, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn ngân hàng. Đại biểu dẫn chứng, ngày 1/7/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư nới tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Quy định này góp phần giảm áp lực về vốn đối với các tổ chức tín dụng, tăng khả năng cung ứng tín dụng và hỗ trợ các dự án, công trình lớn.

Từ thực tế trên, đại biểu cho rằng quy định cho phép áp dụng một số tỷ lệ an toàn khác với mức quy định trong trường hợp cần thiết sẽ tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để tránh lạm dụng chính sách, cần tăng cường kiểm soát thông qua các thiết chế của Nhà nước như thanh tra, giám sát và Kiểm toán Nhà nước.

Đại biểu cũng ủng hộ quy định yêu cầu đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng xây dựng và thực hiện lộ trình bảo đảm tuân thủ các mức quy định, qua đó bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt là duy trì sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

Thứ ba, về cơ chế tài chính đặc thù của Ngân hàng Nhà nước, đại biểu nhấn mạnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương với các nghiệp vụ như đầu tư ngoại hối tại nước ngoài, can thiệp thị trường ngoại hối trong nước, hoạt động trên thị trường mở, phát hành tín phiếu và tổ chức lưu thông tiền tệ. Các hoạt động này phát sinh doanh thu và chi phí, đòi hỏi nguồn vốn và các quỹ nghiệp vụ phù hợp.

Theo kinh nghiệm quốc tế, doanh thu của ngân hàng trung ương được sử dụng để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ và trích lập các quỹ. Trường hợp kết quả hoạt động bị âm, phần thiếu hụt có thể được xử lý bằng kết quả tài chính dương của những năm sau.

Vì vậy, đại biểu đề nghị thiết kế cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước theo hướng: kết quả tài chính sau khi trừ chi phí hoạt động và trích lập các quỹ, nếu dương thì nộp ngân sách nhà nước; trường hợp âm thì được bù đắp bằng kết quả tài chính dương của những năm sau, không sử dụng ngân sách nhà nước để bù lỗ. Theo đại biểu, cơ chế này phù hợp với tính chất đặc thù của ngân hàng trung ương và kinh nghiệm quốc tế.

Cần xác định rõ địa vị pháp lý của ngân hàng thương mại khi làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm

Nêu ý kiến về dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) cho rằng quy định về áp dụng tỷ lệ an toàn khác để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn khá rộng. Theo đại biểu, cần làm rõ “tỷ lệ an toàn khác” được áp dụng như thế nào so với mức thông thường. Trường hợp cho phép áp dụng mức thấp hơn, đây thực chất là cơ chế nới chuẩn an toàn, có thể tác động trực tiếp đến khả năng chống chịu của tổ chức tín dụng và an toàn của hệ thống. Do đó, phạm vi áp dụng cần được giới hạn chặt chẽ ngay trong dự thảo Luật.

Về nghĩa vụ báo cáo giao dịch đáng ngờ, đại biểu cho biết Ngân hàng Nhà nước đã tiếp thu theo hướng làm rõ cơ sở hợp lý để nghi ngờ. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát theo hướng tổ chức tài chính phải báo cáo khi nghi ngờ hoặc có cơ sở hợp lý để nghi ngờ, nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ mục tiêu sửa đổi và phù hợp với Khuyến nghị 20 của Lực lượng đặc nhiệm tài chính quốc tế (FATF), thay vì chủ yếu sử dụng cụm từ “có cơ sở hợp lý để nghi ngờ” như trong dự thảo.

Đồng thời, cần bảo đảm cơ chế báo cáo đối với tài sản, giao dịch liên quan đến tài trợ khủng bố được quy định thống nhất, liên thông với Luật Phòng, chống khủng bố về căn cứ, chủ thể tiếp nhận, thời hạn và phương thức báo cáo.

Đối với dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng, về hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp, đại biểu Dương Khắc Mai tán thành việc bổ sung hoạt động này vào nhóm hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, theo đại biểu, đây là hoạt động tiềm ẩn rủi ro pháp lý và xung đột lợi ích.

Đại biểu đề nghị cân nhắc quy định ngay trong dự thảo Luật một số nguyên tắc cơ bản, gồm: xác định rõ địa vị pháp lý của ngân hàng thương mại khi thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm; quy định các nguyên tắc tối thiểu về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đại lý; kiểm soát xung đột lợi ích trong trường hợp một ngân hàng đồng thời là bên cấp tín dụng, tổ chức tư vấn hoặc phân phối trái phiếu và đại lý quản lý tài sản bảo đảm cho doanh nghiệp phát hành; đồng thời quy định điều kiện tối thiểu đối với ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động này.

Ngăn chặn sử dụng quan hệ tín dụng để tạo sức ép mua sản phẩm đầu tư

Góp ý về dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Lê Văn Thế (Ninh Bình) đề nghị đối với Điều 31a về ngoại hối cần xác định nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định các trường hợp được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; các trường hợp cụ thể giao Ngân hàng Nhà nước quy định.

Đối với khoản 1 Điều 35 về dữ liệu phục vụ lập và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế, đại biểu đề nghị quy định nguyên tắc chia sẻ, khai thác dữ liệu đúng mục đích, đúng thẩm quyền, bảo đảm bí mật và an toàn thông tin; quy trình, phương thức thực hiện giao Chính phủ quy định chi tiết.

Về hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp, đại biểu thống nhất bổ sung hoạt động này cho ngân hàng thương mại, cho rằng nếu được thiết kế phù hợp, đây có thể là giải pháp chuyên nghiệp hơn trong quản lý tài sản bảo đảm, góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Tuy nhiên, đại biểu lưu ý nguy cơ xung đột lợi ích nếu một ngân hàng vừa cấp tín dụng cho doanh nghiệp, vừa quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu, đồng thời tham gia phân phối, thanh toán hoặc cung cấp các dịch vụ khác cho đợt phát hành. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, lợi ích thu hồi khoản nợ của ngân hàng có thể không đồng nhất với lợi ích của trái chủ.

Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện, phạm vi và nguyên tắc thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm; cơ chế nhận diện, công khai và kiểm soát xung đột lợi ích; trách nhiệm quản lý, công khai thông tin về tài sản bảo đảm; đồng thời bảo đảm tách bạch hồ sơ, tài sản, dữ liệu và cơ chế giám sát, xử lý vi phạm.

Đại biểu Lê Văn Thế cũng đề nghị phòng ngừa tình trạng sử dụng việc cung cấp một sản phẩm, dịch vụ để tạo điều kiện hoặc sức ép buộc khách hàng phải mua thêm sản phẩm, dịch vụ khác, thường được ví như “bia kèm lạc”.

Theo đại biểu, trong lĩnh vực ngân hàng, nguy cơ này có thể xuất hiện khi việc cấp tín dụng, giải ngân, gia hạn hoặc cơ cấu khoản vay bị gắn với yêu cầu khách hàng mua hoặc cam kết mua trái phiếu doanh nghiệp hay sản phẩm đầu tư khác. Đây là ranh giới cần được quy định rõ nhằm bảo vệ khách hàng và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính.

Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước khi xây dựng các quy định chi tiết cần đặc biệt chú trọng ngăn chặn việc sử dụng quan hệ tín dụng để ép buộc hoặc tạo sức ép, đặt điều kiện đối với khách hàng trong việc mua sản phẩm đầu tư; chủ động phòng ngừa rủi ro ngay từ khi thiết kế chính sách, không chờ đến khi phát sinh vi phạm mới hoàn thiện quy định.

Sửa 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng: Bảo vệ khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính- Ảnh 4.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giải trình trước Quốc hội- Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

NHNN sẽ thận trọng, kỹ lưỡng khi xây dựng 3 dự án luật để bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng

Giải trình trước Quốc hội về 3 dự án luật, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã có báo cáo tiếp thu, giải trình bước đầu đối với các ý kiến của đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận tổ. Các ý kiến tại tổ và Hội trường đều thể hiện tinh thần trách nhiệm, tâm huyết, cụ thể, xác đáng. Thừa ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu, hoàn thiện 3 dự án luật.

Liên quan đến việc bổ sung Điều 31a về sử dụng ngoại hối, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết Ngân hàng Nhà nước đang nâng cấp cơ chế quản lý ngoại hối theo Pháp lệnh Ngoại hối. Đối với những nội dung liên quan đến hạn chế quyền của công dân, cần được quy định cụ thể, chi tiết.

Theo Thống đốc, dự thảo mới nhất đã quy định các trường hợp được sử dụng ngoại hối; các trường hợp khác giao Ngân hàng Nhà nước quy định. Nội dung này đã được quy định tại Thông tư số 32/2023 và hiện có 16 trường hợp đặc thù. Các trường hợp này tiếp tục được thể hiện trong dự thảo Luật, nhằm bảo đảm tính kế thừa và phù hợp với thực tiễn quản lý ngoại hối.

Về xử lý chênh lệch thu - chi âm của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh kết quả tài chính không phải là lợi nhuận và cũng không phải mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước. Với vai trò vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa thực hiện chức năng ngân hàng trung ương, trong quá trình can thiệp thị trường, Ngân hàng Nhà nước có thể phát sinh chênh lệch thu - chi âm, chẳng hạn khi thực hiện các biện pháp nhằm ổn định tỷ giá, lãi suất.

Theo Thống đốc, có trường hợp chênh lệch thu - chi âm vài nghìn tỷ đồng nhưng đổi lại góp phần ổn định tỷ giá, lãi suất và tạo lợi ích lớn cho nền kinh tế. Do đó, việc đánh giá hoạt động của Ngân hàng Nhà nước không thể chỉ dựa trên kết quả tài chính.

Theo quy định hiện hành, trường hợp kết quả tài chính dương thì nộp ngân sách nhà nước; trường hợp âm được xử lý theo các quy định và cơ chế hiện hành. Theo Thống đốc, pháp luật ngân hàng của nhiều quốc gia cũng có quy định về vấn đề này.

Về cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa thực hiện vai trò của ngân hàng trung ương. Vì vậy, bên cạnh những khoản thu - chi có tính chất tương tự cơ quan quản lý nhà nước, còn có nhiều hoạt động thu - chi đặc thù khó lượng hóa. Do đó, cần có cơ chế tài chính phù hợp để bảo đảm hoạt động an toàn, ổn định của Ngân hàng Nhà nước.

Thống đốc cho biết Nghị quyết số 160/2024 của Quốc hội đã đề cập đến nội dung này; Ngân hàng Nhà nước cũng đang cụ thể hóa các nội dung liên quan để Chính phủ quy định chi tiết, trong đó phân định các vấn đề gắn với chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương.

Về giao dịch gán nợ, Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện theo các quy định trong nước, vừa bảo đảm yêu cầu tuân thủ các quy định, chuẩn mực quốc tế về phòng, chống khủng bố và phòng, chống rửa tiền.

Đối với việc áp dụng các tỷ lệ an toàn khác với mức quy định chung, Thống đốc cho biết Luật Các tổ chức tín dụng đã giao Ngân hàng Nhà nước thẩm quyền quy định nội dung này. Trong quá trình xây dựng báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước đề xuất duy trì cơ chế đặc thù nhưng chỉ áp dụng trong những trường hợp cụ thể.

Thống đốc khẳng định Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét thận trọng việc cho phép tổ chức tín dụng áp dụng tỷ lệ khác với quy định chung, chỉ áp dụng đối với những tổ chức tín dụng thực sự lành mạnh, đáp ứng đầy đủ điều kiện và nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

“Nội dung này giao thẩm quyền cho Ngân hàng Nhà nước, đó là trách nhiệm nặng nề. Ngân hàng Nhà nước phải xác định rõ trách nhiệm bảo đảm an toàn. Vì vậy, các đại biểu Quốc hội có thể yên tâm, Ngân hàng Nhà nước sẽ nỗ lực, cố gắng để khi ban hành quy định phải bảo đảm cụ thể, nhưng không có nghĩa là gia tăng rủi ro. Nếu quy định chung cho cả hệ thống thì có thể phát sinh rủi ro, nhưng khi quy định riêng đối với một số đối tượng cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ kiểm soát chặt chẽ”, Thống đốc Phạm Đức Ấn khẳng định.

Hải Liên

Tham khảo thêm
Bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và phù hợp chuẩn mực quốc tếBảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và phù hợp chuẩn mực quốc tế
Tham khảo thêm
Sửa đổi 3 luật lĩnh vực tài chính-ngân hàng: Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển thị trường vốnSửa đổi 3 luật lĩnh vực tài chính-ngân hàng: Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển thị trường vốn
Tham khảo thêm
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Sửa đổi 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng nhằm hoàn thiện thể chế, khắc phục khoảng trống pháp lýPhó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Sửa đổi 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng nhằm hoàn thiện thể chế, khắc phục khoảng trống pháp lý

Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/sua-3-luat-trong-linh-vuc-ngan-hang-bao-ve-khach-hang-bao-dam-canh-tranh-lanh-manh-tren-thi-truong-tai-chinh-a272328.html