Từ Tân Trào đến Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, những cuộc gặp gỡ ấy từng mở ra một cơ hội lịch sử, trước khi quan hệ hai nước đi qua những khúc quanh đầy biến động và chỉ được nối lại gần nửa thế kỷ sau.
Đêm 11/7/1995 theo giờ Mỹ, Tổng thống Bill Clinton xuất hiện trước công chúng và đọc tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Cách đó nửa vòng trái đất, chỉ vài giờ sau, rạng sáng 12/7 theo giờ Việt Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu trên truyền hình, chính thức thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Khoảnh khắc ấy đã khép lại một chương dài và nhiều mất mát trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đồng thời mở ra một chương mới với những cơ hội mà ở thời điểm đó, có lẽ ít ai có thể hình dung hết. Từ hai cựu thù từng đứng ở hai phía chiến tuyến, hai nước từng bước vượt qua quá khứ, xây dựng lòng tin và mở rộng hợp tác, để rồi hôm nay trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện của nhau.
Nhưng câu chuyện về quan hệ Việt - Mỹ thực ra không bắt đầu từ đêm tháng 7/1995.
Những tiếp xúc đầu tiên giữa người Việt Nam và người Mỹ đã xuất hiện từ trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trong những năm cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, khi cuộc chiến chống phát xít còn đang diễn ra, những người Mỹ đã đặt chân tới Việt Nam, gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh và có những hoạt động hợp tác trong cuộc đấu tranh chống quân Nhật.
Đặc biệt, trong những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một số người Mỹ đã có mặt tại căn cứ cách mạng, cùng làm việc với lực lượng Việt Minh. Và ngày 2/9/1945, giữa hàng vạn người dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình chứng kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, cũng có những người Mỹ đứng trong dòng người chứng kiến thời khắc khai sinh của nước Việt Nam mới.
Cuộc gặp gỡ trong những ngày tháng đặc biệt ấy vốn dĩ đã mở ra cơ hội để Việt Nam và Hoa Kỳ sớm xây dựng quan hệ bang giao. Nhưng "lịch sử thường đi những lối không ngờ". Quan hệ hai nước đã đi qua những khúc quanh đầy biến động, trải qua chiến tranh, đối đầu và chia cách, để rồi gần nửa thế kỷ sau mới có thể cùng nhau mở lại một trang mới.
Từ chuyện cứu phi công Mỹ năm 1944…
Khoảng tháng 10/1944, có một Trung uý phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) - Đó là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh - tổ chức do Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, không những tập hợp mọi lực lượng trong nước, mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước, với đại diện của các nước phe Đồng Minh trong mặt trận chống phát xít.
Ở thời điểm đó, việc cứu một phi công Đồng minh không chỉ là hành động nhân đạo, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Minh đang tìm cách thiết lập quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu phải bảo vệ và chăm sóc người phi công Mỹ chu đáo cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó.
Từ Cao Bằng, viên phi công Mỹ được đưa về Pác Bó sau một hành trình kéo dài nhiều tuần qua núi rừng, trong điều kiện hết sức khó khăn và luôn phải tránh sự truy lùng của quân Nhật. Và cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pác Bó đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với viên phi công Mỹ.
Sau một thời gian dài bị cô lập giữa vùng rừng núi, Shaw bất ngờ khi gặp một người Việt Nam có thể giao tiếp bằng tiếng Anh và hiểu biết rất rõ về thế giới bên ngoài. Ngạc nhiên hơn, anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.
Chính tấm lòng nhân hậu của Lãnh tụ Hồ Chí Minh có tác dụng cảm hóa Trung uý Shaw mạnh mẽ và từ trở thành một mắt xích quan trọng giúp Việt Minh mở rộng tiếp xúc với các đại diện quân sự Mỹ trong đó có Tướng Claire Chennault (1893 - 1958), Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị "Hổ Bay" của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng Minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).
Để thúc đẩy những mối liên hệ ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm đường sang Côn Minh. Hành trình từ Pác Bó tới Côn Minh chủ yếu được thực hiện bằng đường bộ, qua hàng nghìn kilômét địa hình hiểm trở và trong điều kiện an ninh hết sức phức tạp. Việc đưa Shaw trở lại với lực lượng Đồng minh cũng trở thành cơ sở thuận lợi để Người tiếp xúc với các quan chức Mỹ, qua đó giới thiệu về phong trào Việt Minh và tìm kiếm sự phối hợp trong cuộc chiến chống Nhật.
Tại Côn Minh, một trong những người Mỹ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc là Trung úy Charles Fenn, sĩ quan Hải quân Mỹ đang làm nhiệm vụ tại cơ quan hỗ trợ không quân Đồng minh. Qua các cuộc trao đổi, Fenn ngày càng hiểu rõ hơn về tình hình Đông Dương và vai trò của Việt Minh trong cuộc chiến chống Nhật. Ông đồng ý hỗ trợ một số phương tiện thông tin liên lạc và giúp đào tạo nhân lực sử dụng thiết bị.
Từ mối quan hệ với Fenn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cơ hội tiếp xúc với Tướng Claire Chennault. Cuộc gặp với Chennault có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng hợp tác giữa Việt Minh và lực lượng Đồng minh.
Phía Việt Nam đề xuất tăng cường hoạt động chống quân Nhật, đồng thời cung cấp cho không quân Mỹ những thông tin có giá trị về tình hình quân Nhật, thời tiết và địa bàn hoạt động tại miền Bắc Đông Dương. Đổi lại, Việt Minh mong muốn nhận được sự hỗ trợ về huấn luyện, vũ khí, thiết bị liên lạc và một số phương tiện quân sự.
Những đề nghị này nhận được sự đồng tình từ phía Chennault. Sau cuộc gặp, việc phối hợp giữa hai bên được thúc đẩy, tạo điều kiện để một số nhân viên và thiết bị của Mỹ được đưa tới các căn cứ của Việt Minh.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam, một số nhân viên Mỹ tiếp tục được cử sang hỗ trợ lực lượng Việt Minh về thông tin liên lạc. Trong số đó có Frank Tan, Mac Shin và sau này là một số nhân viên OSS. Họ cùng các chiến sĩ Việt Minh thiết lập, vận hành hệ thống điện đài, đồng thời hướng dẫn cách sử dụng những thiết bị được phía Mỹ cung cấp.
Sự hợp tác này diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nhưng đặc biệt, khi lợi ích của hai bên cùng gặp nhau ở mục tiêu chống phát xít Nhật. Những người Mỹ có mặt tại căn cứ Việt Minh được tạo điều kiện hoạt động, trong khi phía Việt Nam tiếp nhận thêm sự hỗ trợ về phương tiện và kỹ thuật phục vụ cuộc kháng chiến.
Cũng trong thời gian này, căn cứ của Việt Minh từng bước được chuyển từ Pác Bó, Cao Bằng về Tân Trào, Tuyên Quang. Từ đây, một chương mới trong sự hợp tác giữa Việt Minh và lực lượng Đồng minh tiếp tục được mở ra, trước khi nhóm đặc nhiệm OSS mang mật danh "Con Nai" xuất hiện tại Tân Trào vào mùa hè năm 1945.
Nhóm "Con Nai" ở Tân Trào
Mùa hè năm 1945, sự hợp tác Việt - Mỹ bước sang một giai đoạn mới khi một nhóm đặc nhiệm của Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS), mang mật danh "Con Nai" (The Deer Team) với 6 thành viên, dưới sự chỉ huy của thiếu tá Allison K. Thomas, theo thỏa thuận giữa hai bên, đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát xít Nhật.
Ngay sau khi đón tiếp biệt đội và vũ khí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh thành lập Đại đội Việt - Mỹ do ông Đàm Quang Trung (sau là Thượng tướng, Tư lệnh Quân khu 1) làm Đại đội trưởng, quân số khoảng 200 người, thiếu tá Thomas làm tham mưu trưởng.
Tại Tân Trào, sự hiện diện của người Mỹ trở nên rõ nét hơn bao giờ hết. Các thành viên nhóm "Con Nai" còn trực tiếp huấn luyện một đơn vị Việt Minh về kỹ thuật quân sự và sử dụng vũ khí. Một đơn vị phối hợp Việt - Mỹ được hình thành với mục tiêu chung là chống quân Nhật.
Những người Mỹ này sau đó đã cùng lực lượng Việt Minh tham gia một số hoạt động trong những ngày Cách mạng Tháng Tám. Họ đi cùng đoàn quân cách mạng từ Tân Trào qua Thái Nguyên về Hà Nội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và thành viên đội biệt kích Con Nai, năm 1945 (Ảnh: Internet).
Ngày 29/8/1945, tại nhà số 48 phố Hàng Ngang, Archimedes L.A.Patti (Trưởng phòng Đông Dương của cơ quan tình báo chiến lược OSS ở Hoa Nam) là người nước ngoài duy nhất được Hồ Chí Minh mời nghe dự thảo bản Tuyên ngôn Độc Lập và trao đổi về một số chủ trương, kế hoạch tương lai của Việt Nam. Trong đó có việc tổ chức ngày Lễ tuyên bố Độc lập của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945.
Không những vậy, L.A.Patti là một trong số ít người nước ngoài được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời dự lễ công bố Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Trong buổi lễ trang trọng, thiêng liêng nhất của quốc gia, trên khán đài nổi bật khẩu hiệu "Hoan nghênh phái đoàn Mỹ".
Cho nên không phải ngẫu nhiên, những dòng đầu tiên bản Tuyên ngôn Độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích từ nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Ngay tại Quảng trường Ba Đình hôm ấy, những người Mỹ cũng đã trực tiếp chứng kiến một dân tộc tuyên bố quyền tự quyết và sự ra đời của một quốc gia độc lập.
Cơ hội bị bỏ lỡ
Sau khi tuyên bố độc lập, tình hình nước ta cực kỳ phức tạp và hết sức nguy nan. Muốn bảo vệ nền độc lập vừa giành được, chính quyền cách mạng non trẻ phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, đồng thời còn cần được các cường quốc dân chủ trên thế giới thừa nhận và hậu thuẫn.
Để giải quyết vấn đề hết sức quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt kỳ vọng ở Mỹ - cường quốc đồng minh giàu mạnh nhất đã nhiều lần tuyên bố không cho phép Pháp lập lại ách thống trị thực dân và đã có quan hệ tốt đẹp với Việt Minh trong chiến tranh chống phát xít.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động liên hệ với một số nhân vật có tầm ảnh hưởng đối với Chính phủ Mỹ để chuyển thành ý của Chính phủ Việt Nam đồng thời trực tiếp gửi thư đến Tổng thống Mỹ và các chính khách nước Mỹ để tìm kiếm sự ủng hộ của nước Mỹ đối với nền độc lập và chính quyền cách mạng còn non trẻ của Việt Nam.
Trong thư gửi Tổng thống Harry Truman, ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Nhân dân Việt Nam hy vọng một cách nghiêm túc sự giúp đỡ to lớn của Chính phủ Mỹ đối với chúng tôi trong cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn và xây dựng lại đất nước".
Chưa đầy 1 tháng sau, ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có thư gửi Tổng thống Truman bày tỏ mong muốn được hợp tác toàn diện với Mỹ: "Cũng như Philippines, mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới".

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời ghi dấu những tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Minh và một số lực lượng Đồng minh, trong đó có người Mỹ (Ảnh: Internet).
Chỉ sau hơn 1 năm đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thông điệp, thư, điện cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, giới thiệu tình hình Đông Dương, đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam, góp phần ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương. Qua đó cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dốc tâm tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ đối với nền độc lập non trẻ của Việt Nam và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia.
Tiếc rằng, chính giới Mỹ đã không đáp lại tấm thịnh tình và nguyện vọng chính đáng đó và lịch sử đã rẽ sang một hướng khác đầy chông gai. Mỹ đã tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam. Sau khi Pháp thua trận, Mỹ trực tiếp can dự, đưa quân xâm lược Việt Nam (1954 - 1975). Tiếp đến là thời kỳ Mỹ thực hiện bao vây, cấm vận toàn diện Việt Nam. Đó là chương bi thương nhất trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ.
Nhưng lịch sử cũng không chỉ được viết bằng những gì đã xảy ra. Nó còn được viết bằng khả năng con người nhìn lại quá khứ, nhận ra những bài học và lựa chọn một hướng đi khác cho tương lai. Lịch sử không có "giá như", nhưng lịch sử luôn để lại cho những thế hệ sau quyền được lựa chọn. Lựa chọn ấy đã, đang và sẽ đưa Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành những đối tác cùng hướng tới hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/tu-tan-trao-den-ba-dinh-nhung-vien-gach-dau-tien-cua-quan-he-viet-my-a273432.html