Chiều 22/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công hiện hành).
Bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng lương
Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (đoàn Quảng Trị) góp ý vào thể chế hóa chính sách tiền lương và an sinh xã hội trong quy định thu chi ngân sách.
Theo ông Vũ, Nghị quyết số 27 của Trung ương xác định mục tiêu cải cách chính sách tiền lương nhằm bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng lương. Mặc dù vậy, việc cụ thể hóa nguyên tắc này trong dự thảo Luật còn một số điểm chưa đồng bộ.
Điều 9 dự thảo quy định danh mục các lĩnh vực ưu tiên bố trí ngân sách nhưng chưa thể chế hóa nguyên tắc ưu tiên bố trí nguồn lực cho chính sách tiền lương. Điểm c khoản 2 Điều 70 xếp việc bổ sung nguồn cải cách tiền lương ở ưu tiên cuối cùng khi phân bổ nguồn tăng thu sau ưu tiên giảm bội chi và bổ sung quỹ dự phòng tài chính. Điều 62 cũng chỉ coi chi tiền lương là khoản không thể trì hoãn trong cơ chế tạm cấp đầu năm.

Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Ảnh: Media Quốc hội).
Theo đại biểu, đây là nguyên tắc mang tính giải pháp tình huống hơn là nguyên tắc quản lý ngân sách một cách chủ động.
Ông Vũ cho rằng, xét về mặt thực tiễn áp dụng, theo quy định tại Nghị định số 161/2026, mức lương cơ sở hiện nay là 2,53 triệu đồng. Theo đó, công chức loại A1, bậc 1 (tức là dành cho công chức áp dụng bậc đại học) thì có mức lương khởi điểm khoảng 5,92 triệu đồng/tháng.
Ở khu vực tư nhân, theo quy định của Bộ luật Lao động và Nghị định số 293/2005, mức lương tối thiểu vùng hiện dao động từ 3,7 - 5,31 triệu đồng/tháng.
"Các số liệu trên cho thấy thu nhập tối thiểu của người lao động ở khu vực công lẫn khu vực tư đều đang chịu áp lực lớn, nhất là tại các địa bàn đô thị lớn", ông nói.
Từ những căn cứ pháp lý và thực tiễn nêu trên, vị đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét bổ sung khoản 7 Điều 9 nguyên tắc ưu tiên cân đối, bố trí nguồn lực ngân sách cho chính sách tiền lương khu vực công. Đồng thời đề nghị nghiên cứu sửa đổi chính sách tiền lương tại Bộ luật Lao động đối với khu vực tư, bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đủ sống bằng chính đồng lương của mình, bảo đảm hài hòa với yêu cầu phát triển bền vững.
Đồng thời, nâng thứ tự ưu tiên của việc bổ sung nguồn thực hiện chính sách tiền lương trong phương án sử dụng nguồn tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước hằng năm, thay vì để nguyên tắc chi tiền lương ở vị trí sau cùng như dự thảo luật.
Cá thể hóa trách nhiệm, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm
Cũng tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Thành Trung (đoàn Lào Cai) cho rằng đây không đơn thuần là bước sáp nhập cơ học về mặt kỹ thuật, mà phải là một cuộc cải cách về thể chế pháp luật và cách mạng về tư duy quản trị tài chính công.
Theo đại biểu, nhìn vào thực tiễn những năm qua, không khỏi băn khoăn trước nghịch lý: quy trình, thủ tục phê duyệt dự án ngày càng chặt chẽ nhưng hiệu quả đầu tư công vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Hệ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) giai đoạn 2021-2025 vẫn rất cao, dù đã giảm so với các giai đoạn trước.

Đại biểu Nguyễn Thành Trung (Ảnh: Media Quốc hội).
Đại biểu dẫn chứng, một dự án giải ngân đúng tiến độ, hồ sơ thanh quyết toán đầy đủ theo quy định nhưng công trình bị "đắp chiếu", không phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội thì về mặt thủ tục là đúng pháp luật, nhưng xét về kinh tế, hiệu quả sử dụng ngân sách chưa tối ưu và gây lãng phí nguồn lực.
Ngược lại, một người đứng đầu dám nghĩ, dám làm, muốn linh hoạt điều chỉnh để công trình hoàn thành sớm hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn thì luôn phải đối mặt với rủi ro pháp lý và những rào cản về thủ tục.
Theo ông Trung, chính tư duy quản trị cũ này đã tạo ra một lực cản vô hình, đẩy đội ngũ cán bộ vào trạng thái an toàn và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ách tắc giải ngân vốn đầu tư công.
Để thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Kết luận số 18, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, thiết kế dự án luật theo một số nguyên tắc.
Thứ nhất, chuyển dịch toàn diện sang quản lý ngân sách và đầu tư dựa trên kết quả thực tế. Theo đó, cần đưa nguyên tắc hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo để phân bổ và đánh giá nguồn lực. Đây cũng là nhiệm vụ đã được Trung ương nhấn mạnh tại Kết luận số 18.
"Việc giao vốn không thể dựa vào các danh mục cơ học hay cơ chế "xin - cho", mà phải dựa trên báo cáo đánh giá tác động kinh tế - xã hội định lượng trước khi phê duyệt. Đồng thời, cần ưu tiên bố trí vốn cho những dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội, giải quyết được nhiều điểm nghẽn về hạ tầng", ông Trung nói.
Thứ hai, cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu gắn với cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Đại biểu đề nghị xác định rõ người đứng đầu cơ quan chủ quản, chủ đầu tư không chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hồ sơ mà còn phải chịu trách nhiệm về tính hiệu quả thực tế của công trình sau khi được đưa vào vận hành.
Đi kèm với đó, luật cần thiết kế một cơ chế an toàn. Nếu người đứng đầu chứng minh được việc điều chỉnh quy trình là vì lợi ích của dự án, không có động cơ vụ lợi hay tham nhũng và mang lại hiệu quả cho Nhà nước thì cần được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm thủ tục hành chính thông thường.
Từ đó, đại biểu Nguyễn Thành Trung đề nghị bổ sung quy định về cá thể hóa trách nhiệm đối với kết quả cuối cùng và cơ chế miễn trừ trách nhiệm của người đứng đầu tại Điều 35; đồng thời bổ sung quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện cơ chế miễn trừ trách nhiệm tại Điều 72.
"Chỉ khi chúng ta mạnh dạn thay đổi nguyên tắc từ kiểm soát hành vi sang kiểm soát kết quả, chúng ta mới có thể tạo ra một động lực mới, giải phóng năng lượng sáng tạo của bộ máy và đưa dòng vốn đầu tư công thực sự trở thành động lực dẫn dắt các nguồn lực xã hội cho sự phát triển của đất nước", ông Trung nói.
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/dai-bieu-quoc-hoi-de-nghi-nang-uu-tien-bo-tri-ngan-sach-cho-chinh-sach-tien-luong-a273849.html