Trong bài trước với chủ đề "Từ một cú click đến làn sóng thông tin xấu độc", Người Đưa Tin đã phân tích những yếu tố khiến thông tin sai sự thật, nội dung độc hại có thể nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và tác động đến cộng đồng.
Khi những nội dung này vượt khỏi phạm vi một tài khoản cá nhân để tạo thành hiệu ứng đám đông, kéo theo những hệ lụy trong đời sống thực, vấn đề trách nhiệm của người tạo ra và phát tán thông tin càng trở nên đáng lưu tâm.
Ở góc độ pháp lý, không phải mọi hành vi đăng tải hay chia sẻ thông tin sai sự thật đều bị xử lý theo cùng một cách. Tính chất, mức độ vi phạm, mục đích, lỗi của người thực hiện và hậu quả gây ra là những căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm tương ứng.
3 mức độ trách nhiệm pháp lý
Trao đổi với Người Đưa Tin về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến - Giám đốc Công ty Luật TNHH Gia Võ cho rằng trách nhiệm pháp lý đối với hành vi đưa thông tin sai sự thật trên mạng xã hội có thể được xem xét theo ba nhóm chế tài gồm hành chính, dân sự và hình sự. Việc áp dụng chế tài nào phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi, lỗi của người thực hiện và hậu quả thực tế.
Theo luật sư, ở mức độ nhẹ, khi hành vi vi phạm quy định về sử dụng mạng xã hội nhưng chưa đến mức cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính.
Luật sư dẫn Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Theo đó, hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng. Người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc thông tin vi phạm pháp luật.
Đối với hoạt động báo chí, Nghị định 119/2020/NĐ-CP cũng quy định mức phạt từ 60-80 triệu đồng đối với một số hành vi đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
Ở góc độ dân sự, trách nhiệm bồi thường có thể phát sinh khi thông tin sai sự thật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và gây thiệt hại thực tế về vật chất hoặc tinh thần.

Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến - Giám đốc Công ty Luật TNHH Gia Võ.
Theo Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến, căn cứ Điều 592 Bộ luật Dân sự, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm có thể bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và các thiệt hại khác do luật quy định.
Người có trách nhiệm bồi thường còn phải bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm theo quy định.
Ở mức độ nghiêm trọng hơn, nếu hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người đăng tải hoặc phát tán thông tin sai sự thật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tùy tính chất, mục đích và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xem xét về các tội danh như tội làm nhục người khác, tội vu khống hoặc các tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Đáng chú ý, theo luật sư khi xác định trách nhiệm pháp lý, không thể chỉ dựa vào số lượt xem hoặc lượt chia sẻ của một thông tin.
"Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét tổng thể nội dung thông tin, người đăng có biết đó là thông tin sai sự thật hay không, mục đích khi tạo dựng và phát tán thông tin, phạm vi và mức độ lan truyền, đối tượng bị tác động cũng như hậu quả thực tế xảy ra", luật sư phân tích.
Trong đó, yếu tố lỗi và mục đích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cần phân biệt trường hợp một người vô tình chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, sau đó phát hiện sai và chủ động gỡ bỏ, với trường hợp một người biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn cố tình dựng chuyện, đăng tải và kêu gọi cộng đồng chia sẻ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của một cá nhân.
Theo Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến, trường hợp thứ hai có sự khác biệt rõ về lỗi và mục đích, đồng thời có thể phù hợp với dấu hiệu "biết rõ là sai sự thật" trong tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.
Hậu quả cũng là căn cứ quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm. Hậu quả có thể được xem xét dưới nhiều góc độ như thiệt hại vật chất, thu nhập bị mất hoặc giảm sút, tổn thất về tinh thần, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín hoặc trong những trường hợp luật định là hậu quả đối với an ninh, trật tự, xã hội.
Trong khi đó, mức độ lan truyền có thể được sử dụng để đánh giá phạm vi tác động và hậu quả của hành vi, nhưng không phải là căn cứ duy nhất để xác định trách nhiệm hình sự.
"Ví dụ, một bài đăng chỉ có 100 lượt xem vẫn có thể cấu thành tội vu khống nếu người đăng biết rõ thông tin là bịa đặt và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự", luật sư nêu.
Tài khoản ảo gây khó cho việc truy tìm chủ thể
Một vấn đề khác được Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến chỉ ra là khó xác định chủ thể đứng sau các tài khoản ảo, ẩn danh hoặc liên tục thay đổi để phát tán nội dung vi phạm. Tình trạng này phổ biến trên các nền tảng xuyên biên giới như Facebook, TikTok, YouTube trong khi người vi phạm có thể sử dụng VPN, SIM không chính chủ hoặc thông tin giả để che giấu danh tính.
Theo Điều 26 Luật An ninh mạng 2018, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách khi có yêu cầu bằng văn bản. Tuy nhiên, việc xác thực danh tính trong nhiều trường hợp vẫn cần sự phối hợp quốc tế và các giải pháp công nghệ.

Theo luật sư, từ một tài khoản ẩn danh đến một làn sóng thông tin xấu độc việc truy tìm chủ thể và xác định trách nhiệm pháp lý đang trở thành bài toán không dễ giải trên không gian mạng (Ảnh minh họa)
Luật sư đánh giá Nghị định 147/2024/NĐ-CP, với quy định xác thực tài khoản mạng xã hội bằng số điện thoại hoặc số định danh cá nhân là bước tiến quan trọng trong việc xác định chủ thể và gắn trách nhiệm pháp lý với người sử dụng tài khoản. Tuy nhiên, xác định được người điều hành tài khoản chưa đồng nghĩa với việc chứng minh người đó trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.
"Không nên hiểu đơn giản rằng tài khoản đứng tên người nào thì người đó phải chịu trách nhiệm đối với mọi nội dung được đăng tải. Về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý phải được xác định trên cơ sở hành vi thực tế, lỗi và mối quan hệ giữa chủ thể với nội dung vi phạm", luật sư nhấn mạnh.
Bên cạnh xác định chủ thể, việc thu thập và bảo toàn chứng cứ điện tử cũng có ý nghĩa quan trọng. Tin nhắn, bài viết, hình ảnh, video, dữ liệu nhật ký hệ thống... có thể được sử dụng làm chứng cứ nhưng phải bảo đảm tính toàn vẹn. Người bị xâm phạm có thể lưu giữ nội dung vi phạm, chụp màn hình hoặc trong trường hợp phù hợp đề nghị Thừa phát lại lập vi bằng, đồng thời thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo toàn dữ liệu gốc và phục vụ giám định.
Tùy tính chất, mức độ, hành vi vi phạm có thể dẫn đến trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự. Trong đó, Bộ luật Dân sự 2015 quy định căn cứ yêu cầu bồi thường khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, Luật sư Nguyễn Thị Minh Yến cho rằng pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng tăng hiệu quả thực thi nhưng đồng thời phải bảo đảm tính minh bạch và khả năng kiểm soát đối với các biện pháp hạn chế quyền.
Trong đó, cần làm rõ trách nhiệm của người tạo nội dung, người phát tán, nền tảng, doanh nghiệp cung cấp hạ tầng và các chủ thể trung gian. Đồng thời xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, ứng dụng AI và phân tích dữ liệu để phát hiện, xử lý sớm thông tin vi phạm.
Đặc biệt, xử lý nội dung vi phạm không đồng nghĩa với hạn chế các biểu đạt hợp pháp. Pháp luật cần phân biệt giữa hành vi vi phạm như lừa đảo, vu khống, xâm phạm quyền riêng tư, phát tán mã độc, kích động phạm tội với những ý kiến, bình luận, phê bình hoặc quan điểm gây tranh luận nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ.
"Tóm lại, thách thức lớn nhất hiện nay không đơn giản là pháp luật chưa có công cụ mà là làm thế nào để những công cụ đã có thực sự phát huy hiệu quả trong một môi trường không biên giới, đồng thời kiểm soát được nguy cơ lạm dụng các biện pháp hạn chế", luật sư nhận định.
Theo bà, nguyên tắc cần hướng tới là xử lý nghiêm hành vi vi phạm nhưng không xử lý quá mức quyền hợp pháp của người dùng. Nói cách khác, pháp luật cần đạt được 4 đúng: xác định đúng chủ thể – xác định đúng hành vi – áp dụng đúng biện pháp – bảo đảm đúng thủ tục.
Đây là cơ sở để vừa ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm xuyên biên giới, vừa bảo đảm quyền tự do biểu đạt hợp pháp trong môi trường số.
Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/khi-thong-tin-xau-doc-lan-truyen-ai-phai-chiu-trach-nhiem-a274816.html