"Cú hích" Nghị quyết 26: Chuyển từ tư duy "đông khách" sang kiến tạo giá trị từ tài nguyên

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nếu trước đây chúng ta thường tự hào về số lượng khách, số phòng, số điểm đến hay tốc độ tăng trưởng, thì giai đoạn mới du lịch phải đo bằng chất lượng tăng trưởng khách ở bao lâu, chi tiêu bao nhiêu...

5 yếu tố mang tính quyết định

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã trình bày những nội dung cốt lõi, chủ yếu của Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà (Ảnh: Phạm Đông).

Nghị quyết xác lập 5 quan điểm mang tính đột phá, trong đó nhấn mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới; phát triển theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp; chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo; đổi mới năng lực quản trị và xác định rõ các chủ thể, phương thức huy động nguồn lực.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; đến năm 2045, tỉ lệ đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 14-15%, đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.

Trao đổi với Người Đưa Tin, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, ĐBQH đoàn Tp.Hà Nội cho rằng điều quan trọng nhất của Nghị quyết 26 không chỉ nằm ở việc đặt ra những con số rất tham vọng cho năm 2030, mà ở chỗ Nghị quyết yêu cầu thay đổi căn bản tư duy phát triển du lịch.

Nếu trước đây chúng ta thường tự hào về số lượng khách, số phòng, số điểm đến hay tốc độ tăng trưởng, thì giai đoạn mới phải đo bằng chất lượng tăng trưởng khách ở bao lâu, chi tiêu bao nhiêu, trải nghiệm có khác biệt không, giá trị giữ lại cho nền kinh tế và cộng đồng địa phương là bao nhiêu, môi trường và di sản có được bảo vệ tốt hơn hay không?

Phải chuyển từ tư duy "đông khách" sang tư duy "giá trị cao", từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị từ tài nguyên.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Ảnh: Hữu Thắng).

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, có ít nhất 5 yếu tố mang tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn mới.

Đó là, thể chế. Theo ông, Nghị quyết 26 đã đặt đúng vấn đề khi yêu cầu những cơ chế mới cho kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, nền tảng số, tổ hợp du lịch - văn hóa - thể thao - giải trí, hợp tác công tư, ưu đãi đầu tư và các mô hình mới. Điều cần làm tiếp theo là thể chế hóa nhanh, rõ và có khả năng thực thi.

Đó là hạ tầng kết nối; sản phẩm và trải nghiệm; doanh nghiệp và nhân lực; năng lực quản trị điểm đến dựa trên dữ liệu.

Ông đặc biệt lưu ý nhân lực du lịch cũng phải chuyển từ "phục vụ" sang "kiến tạo trải nghiệm", giỏi ngoại ngữ, công nghệ, văn hóa và kỹ năng nghề theo chuẩn quốc tế.

"Nếu 5 yếu tố này được triển khai đồng bộ, mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mới có thể trở thành một chuyển biến thực chất, chứ không chỉ là một mục tiêu đẹp trên văn bản", PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Mỗi địa phương phải phát huy được lợi thế riêng

Một trong những điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết 26 là xác định văn hóa, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là nền tảng, lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Theo ông Bùi Hoài Sơn, khi xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là lợi thế cạnh tranh, chúng ta đã đặt di sản vào một vị trí mới: không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà còn là nguồn lực để kiến tạo giá trị phát triển, tất nhiên với điều kiện mọi khai thác đều phải làm cho di sản được bảo tồn tốt hơn và cộng đồng chủ thể được hưởng lợi nhiều hơn.

Người dân, du khách thích thú chụp ảnh dịp lễ Quốc khánh 2/9 (Ảnh: Hữu Thắng).

"Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng di sản, còn phát huy không đồng nghĩa với bán vé thật nhiều. Giá trị lớn nhất của di sản nằm ở câu chuyện, ký ức, tri thức, kỹ năng, lối sống và cảm xúc mà nó có thể truyền sang thế hệ hôm nay. Du lịch chính là một trong những con đường để biến những giá trị ấy thành trải nghiệm sống động", ông Sơn phân tích.

Đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc: càng khai thác di sản cho du lịch thì càng phải đầu tư trở lại cho bảo tồn. Cần có cơ chế minh bạch để một phần nguồn thu từ khai thác du lịch được tái đầu tư cho tu bổ, nghiên cứu, số hóa, truyền dạy và nâng cao năng lực cộng đồng.

Phải xác định sức tải của điểm đến, giới hạn lượng khách ở những khu vực nhạy cảm, kiểm soát xây dựng, rác thải, tiếng ồn, thương mại hóa và những hoạt động có nguy cơ làm biến dạng không gian văn hóa.

Quan trọng hơn nữa, người dân phải được tham gia từ khâu xây dựng câu chuyện, thiết kế sản phẩm đến cung cấp dịch vụ và phân chia lợi ích. Một di sản chỉ thật sự sống khi người dân còn tự hào, còn thực hành và còn thấy tương lai của mình gắn với di sản ấy.

Nghị quyết 26 mở ra cơ hội để chuyển từ tư duy "bảo tồn để giữ lại" sang "bảo tồn để tiếp tục sống, tiếp tục sáng tạo và tiếp tục tạo ra giá trị", qua đó biến bản sắc Việt Nam thành lợi thế cạnh tranh mà không quốc gia nào có thể sao chép.

Để mỗi địa phương phát huy được lợi thế riêng, đồng thời hình thành những sản phẩm du lịch đủ sức cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế, ông Bùi Hoài Sơn cho rằng, Nghị quyết 26 đã gợi mở một hướng rất đúng khi yêu cầu xác định lợi thế khác biệt, phát triển liên kết vùng, hành lang du lịch, cực tăng trưởng và sản phẩm đặc thù của địa phương.

"Theo tôi, mỗi địa phương cần trả lời được 3 câu hỏi: mình có gì mà nơi khác không có; nhóm khách nào sẵn sàng trả tiền cho giá trị đó; và làm thế nào để biến giá trị ấy thành một trải nghiệm hoàn chỉnh, có chất lượng quốc tế. Từ đó, địa phương lựa chọn một số sản phẩm chủ lực thay vì đầu tư dàn trải", ông Sơn cho hay.

"Việt Nam có đủ tài nguyên, thiên nhiên, di sản văn hóa và nguồn lực để làm nên một ngành du lịch tầm cỡ khu vực và thế giới. Điều còn lại là ý chí, là quyết tâm, là hành động của chính chúng ta"
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà.

Ông cũng lưu ý, liên kết vùng phải đi từ "ký kết hợp tác" sang quản trị chung; cần trao thêm quyền chủ động cho địa phương nhưng đồng thời thiết lập chuẩn quốc gia về chất lượng, môi trường, an toàn và quản trị; phải có "nhạc trưởng" cho điểm đến; Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ dàn đều sang hỗ trợ có trọng tâm cho những sản phẩm có khả năng tạo thương hiệu quốc gia và lan tỏa vùng.

"Khi mỗi địa phương có một bản sắc rõ, nhưng các bản sắc ấy được kết nối thành một hệ sinh thái quốc gia, du lịch Việt Nam mới vừa đa dạng vừa có sức mạnh tổng hợp để cạnh tranh ở tầm khu vực và thế giới", ông Sơn cho hay.

Từ góc độ lập pháp, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Tp.Hải Phòng) cho rằng việc xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi của du lịch đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận đối với tài nguyên văn hóa.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (Ảnh: Hữu Thắng).

Theo đại biểu, lợi thế của du lịch Việt Nam không chỉ nằm ở cảnh quan mà còn ở chiều sâu lịch sử, bản sắc và những giá trị văn hóa được hình thành qua nhiều thế hệ. Đây là những yếu tố tạo nên sự khác biệt mà các điểm đến khác khó có thể sao chép.

Tuy nhiên, bà lưu ý, văn hóa phải được xác định là nền tảng của du lịch, chứ không thể trở thành "nguyên liệu" để khai thác bằng mọi giá. Việc chạy theo số lượng khách hoặc doanh thu trước mắt có thể dẫn đến thương mại hóa thô ráp, sân khấu hóa tùy tiện hoặc làm biến dạng những giá trị vốn có của di sản.

"Bảo tồn di sản là điều kiện tiên quyết, còn khai thác du lịch là một phương thức để phát huy giá trị", bà Nga nhấn mạnh.

Phấn đấu đến 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% tăng trưởng GDP

Với góc độ lập pháp và giám sát, ông Sơn cũng cho biết thêm, yêu cầu lớn nhất lúc này là biến tinh thần rất mới của Nghị quyết 26 thành một hệ thống pháp luật đồng bộ, có khả năng tháo gỡ những điểm nghẽn mà doanh nghiệp và địa phương đang gặp. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp nên không thể chỉ sửa một đạo luật về du lịch là đủ.

Cần giám sát bằng các chỉ số đầu ra phản ánh chất lượng dịch vụ du lịch (Ảnh: Hữu Thắng).

"Cần phải rà soát đồng thời các quy định về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, giao thông, di sản, môi trường, thuế, phí, xuất nhập cảnh, thương mại điện tử và hợp tác công tư", ông Sơn nêu.

Theo ông, có 4 nhóm chính sách cần ưu tiên: cơ chế thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng; cơ chế hợp tác công tư và quản trị điểm đến; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; chính sách thị trường và tạo thuận lợi cho khách.

Về giám sát, theo ông Quốc hội và các cơ quan dân cử không nên chỉ giám sát số lượng khách hay tiến độ dự án.

Cần giám sát bằng các chỉ số đầu ra phản ánh chất lượng: mức chi tiêu, thời gian lưu trú, tỉ lệ quay lại, mức độ hài lòng, tỉ lệ doanh thu giữ lại cho địa phương, việc làm và thu nhập của người dân, chất lượng môi trường, tình trạng bảo tồn di sản, mức độ số hóa và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan trọng hơn, phải giám sát việc thực hiện sau khi chính sách được ban hành.

"Nghị quyết 26 sẽ thực sự tạo ra dư địa mới nếu thể chế mới đi vào được dự án, sản phẩm, việc làm, thu nhập và những trải nghiệm mà người dân, doanh nghiệp và du khách có thể cảm nhận được trong đời sống thực tế", ông Sơn nhấn mạnh.

Link nội dung: https://dulichgiaitri.vn/cu-hich-nghi-quyet-26-chuyen-tu-tu-duy-dong-khach-sang-kien-tao-gia-tri-tu-tai-nguyen-a275981.html