
Chương trình được kỳ vọng tạo bước chuyển trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản theo hướng dài hạn, trọng điểm, gắn với phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược quốc gia - Ảnh minh họa
Điểm đáng chú ý của Chương trình PEBR là chuyển từ mô hình tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu đơn lẻ, ngắn hạn sang đầu tư theo các định hướng nghiên cứu trung và dài hạn từ 5-10 năm. Chương trình ưu tiên các chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản có mục tiêu khoa học rõ ràng, gắn với phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể.
Việc đầu tư sẽ tập trung vào các vấn đề khoa học nền tảng có tiềm năng tạo đột phá, phù hợp với lợi thế và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên gồm: Công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ.
Chương trình cũng nhấn mạnh định hướng đầu tư tập trung, có trọng tâm, trọng điểm và chiều sâu; ưu tiên phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và các hướng nghiên cứu có tiềm năng tạo đột phá gắn với lợi thế phát triển của Việt Nam.
Theo mục tiêu tổng quát, PEBR hướng tới phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên trở thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.
Cụ thể, đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực. Đến năm 2035, số lượng nhóm nghiên cứu mạnh dự kiến tăng lên khoảng 50 nhóm, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.
Về chất lượng công bố khoa học, đến năm 2030, tỉ lệ công bố trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và hệ thống Nature Index được kỳ vọng tăng khoảng 1,5 lần; đến năm 2035 tăng khoảng 2 lần so với mức trung bình giai đoạn 2021-2025 của từng lĩnh vực khoa học tương ứng.
Đáng chú ý, Chương trình hướng tới hình thành các hướng nghiên cứu mới có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Theo đó, đến năm 2030 sẽ hình thành ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi; đến năm 2035 hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, tối thiểu 5 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi.
Chương trình cũng đặt mục tiêu thúc đẩy chuyển tiếp từ nghiên cứu cơ bản sang phát triển công nghệ chiến lược. Phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 10% và đến năm 2035 có ít nhất 20% số nhiệm vụ thuộc các hướng nghiên cứu mới có kết quả đủ điều kiện đăng ký sáng chế quốc tế hoặc có khả năng chuyển tiếp sang nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.
Bên cạnh đó, PEBR chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học trình độ cao, đặc biệt là lực lượng nhà khoa học trẻ có tiềm năng dẫn dắt. Đến năm 2030, Chương trình dự kiến hỗ trợ, bồi dưỡng và kết nối ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và nhà khoa học trẻ; đến năm 2035 hỗ trợ ít nhất 1.000 nhà khoa học.
Một nội dung quan trọng khác là tăng cường hợp tác quốc tế có chiều sâu và thực chất. Đến năm 2030, Chương trình phấn đấu triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế; đến năm 2035 tăng lên ít nhất 300 nhiệm vụ. Mỗi nhóm nghiên cứu sẽ có ít nhất một đối tác quốc tế chiến lược.
Theo Quyết định, việc lựa chọn, tài trợ và đánh giá nhiệm vụ sẽ được thực hiện trên cơ sở cạnh tranh, công khai, minh bạch, theo tiêu chí xuất sắc khoa học. Các nhiệm vụ sẽ được đánh giá kết hợp giữa ý kiến chuyên gia với các chỉ số khoa học chuẩn hóa quốc tế như FWCI, CNCI và các chỉ số tương đương.
Chương trình cũng áp dụng phương thức quản lý dựa trên kết quả đầu ra và tác động khoa học; thiết lập cơ chế đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ để kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương thức triển khai. Đồng thời, khuyến khích các ý tưởng khoa học mới, có tính đột phá và chấp nhận rủi ro khoa học phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản.
Toàn bộ Chương trình PEBR sẽ được triển khai trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả theo dõi, đánh giá trong quá trình thực hiện.
Thu Giang