Giấy phép kinh doanh thuốc lá: Cải cách thủ tục phải đi đôi với kiểm soát hiệu quả

Việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, tính nhất quán và khả năng dự đoán của chính sách đang được đặt ra cùng với yêu cầu tiếp tục quản lý chặt thị trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tránh kiểm tra dàn trải, hình thức

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá được trình Quốc hội vào ngày 21/10 và thảo luận tại tổ. Theo chương trình kỳ họp, dự án Luật này sẽ được thảo luận tại hội trường ngày 9/11.

Trong đó, việc tiếp tục duy trì hay bãi bỏ giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm của ĐBQH.

Giấy phép kinh doanh thuốc lá: Cải cách thủ tục phải đi đôi với kiểm soát hiệu quả- Ảnh 1.

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá sẽ được thảo luận tại hội trường ngày 9/11.

Vấn đề đặt ra không chỉ là giữ hay bỏ một thủ tục hành chính, mà còn liên quan đến tính tiếp nối của chính sách cải cách, phương thức quản lý thị trường sau khi giảm tiền kiểm và khả năng thích ứng của mạng lưới lớn doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương. Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP tiếp tục cho phép không thực hiện một số yêu cầu cấp giấy phép mua bán, bán thuốc lá trong giai đoạn từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027.

Do cơ chế này có thời hạn, quá trình sửa luật đang đứng trước yêu cầu xác định rõ phương thức quản lý sau giai đoạn chuyển tiếp. Nếu những thủ tục đã được cắt giảm hoặc tạm thời không thực hiện quay trở lại khi văn bản mới có hiệu lực, doanh nghiệp và hộ kinh doanh sẽ tiếp tục phải điều chỉnh hoạt động, trong khi cơ quan quản lý cũng phải bố trí trở lại nguồn lực tiếp nhận, thẩm định và giải quyết hồ sơ.

Trao đổi với Người Đưa Tin, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng cần nhìn nhận vấn đề duy trì giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá từ hai góc độ: yêu cầu kiểm soát một mặt hàng có tác hại đối với sức khỏe cộng đồng và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh hợp pháp.

"Thuốc lá không phải là hàng hóa tiêu dùng thông thường. Vì vậy, việc Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ thuốc lá là cần thiết. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa sự cần thiết phải quản lý và sự cần thiết phải duy trì từng loại giấy phép. Không phải cứ có nhiều giấy phép thì hiệu quả quản lý sẽ cao hơn", đại biểu Tú Anh nói.

Đại biểu cho rằng cần đánh giá cụ thể vai trò của giấy phép ở từng khâu phân phối, bán buôn, bán lẻ; xác định giấy phép đó thực sự giúp kiểm soát được yếu tố nào mà các biện pháp quản lý khác không thể thay thế.

"Nếu một thủ tục chỉ có ý nghĩa xác nhận những điều kiện đã được quy định và có thể kiểm tra thông qua dữ liệu hoặc hoạt động thanh tra, kiểm tra thì cần cân nhắc việc tiếp tục duy trì bãi bỏ giấy phép", đại biểu nêu ý kiến.

Giấy phép kinh doanh thuốc lá: Cải cách thủ tục phải đi đôi với kiểm soát hiệu quả- Ảnh 2.

ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Ảnh: Media Quốc hội).

Nếu bãi bỏ giấy phép, theo đại biểu trước hết phải xác định rõ cơ chế quản lý thay thế, không thể chỉ dừng lại ở việc chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm".

Đối với thuốc lá, cần đặc biệt chú trọng kiểm soát nguồn gốc hàng hóa và hệ thống phân phối. Các cơ sở kinh doanh phải có trách nhiệm chứng minh nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm, lưu giữ chứng từ mua bán và cung cấp thông tin phục vụ hoạt động kiểm tra, truy xuất khi cần thiết.

Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý thị trường, cơ quan thuế, hải quan và chính quyền địa phương trong việc phát hiện, xử lý thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả và các hành vi kinh doanh trái phép.

Hoạt động hậu kiểm cũng cần tập trung vào những cơ sở, địa bàn và hành vi có nguy cơ vi phạm cao, thay vì kiểm tra dàn trải, hình thức.

Đặc biệt, cần có chế tài đủ sức răn đe đối với hành vi kinh doanh thuốc lá không rõ nguồn gốc, bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi hoặc vi phạm các quy định về địa điểm bán.

Đại biểu Tú Anh cũng cho rằng, quy định về giấy phép kinh doanh thuốc lá cần thiết kế chính sách theo nguyên tắc quản lý tương xứng với mức độ rủi ro và đặc điểm của từng hoạt động kinh doanh.

Ở khâu phân phối, bán buôn, cần chú trọng kiểm soát nguồn cung, tính hợp pháp của hàng hóa và trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Ở khâu bán lẻ, trọng tâm quản lý cần hướng vào việc tuân thủ quy định về địa điểm bán, độ tuổi người mua và các hành vi bị nghiêm cấm.

Cần rà soát những điều kiện kinh doanh thực sự cần thiết phải duy trì, đồng thời loại bỏ những yêu cầu trùng lặp, không còn phù hợp hoặc không chứng minh được hiệu quả quản lý.

Việc đơn giản hóa thủ tục cũng cần gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp nhiều lần cùng một loại thông tin.

Tuy nhiên, đại biểu cũng cho rằng không nên đồng nhất cải cách thủ tục hành chính với việc nới lỏng kiểm soát thuốc lá. Đây là mặt hàng mà chính sách quản lý phải hướng tới mục tiêu giảm nhu cầu sử dụng, hạn chế khả năng tiếp cận, đặc biệt là đối với trẻ em và thanh thiếu niên.

"Cải cách thực chất phải là giảm chi phí tuân thủ không cần thiết cho người kinh doanh hợp pháp, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện và xử lý hành vi vi phạm. Đó mới là thước đo hiệu quả của chính sách", đại biểu đoàn Lâm Đồng nhấn mạnh.

Giảm thủ tục nhưng không giảm trách nhiệm quản lý

Trước đó, thảo luận tại tổ, ĐBQH Phạm Ngọc Lâm (Đoàn Gia Lai) đồng tình với yêu cầu tiếp tục quản lý chặt hoạt động kinh doanh thuốc lá vì đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng việc phải đáp ứng điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa mọi khâu trong hệ thống sản xuất và lưu thông đều bắt buộc phải có giấy phép.

Theo đại biểu Phạm Ngọc Lâm, pháp luật về đầu tư cho phép áp dụng nhiều hình thức quản lý đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, không nhất thiết phải bằng giấy phép.

Giấy phép kinh doanh thuốc lá: Cải cách thủ tục phải đi đôi với kiểm soát hiệu quả- Ảnh 3.

ĐBQH Phạm Ngọc Lâm (Ảnh: Media Quốc hội).

Khoản 1 và khoản 5 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2025 quy định về việc phân loại ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo phương thức tiền kiểm, hậu kiểm và cho phép áp dụng nhiều hình thức quản lý khác nhau, bao gồm giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền hoặc các yêu cầu khác mà tổ chức, cá nhân phải đáp ứng mà không cần xác nhận bằng văn bản.

Nhà nước vẫn có thể duy trì đầy đủ các điều kiện kinh doanh cần thiết, đồng thời lựa chọn phương thức quản lý phù hợp với từng hoạt động nhằm giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá không phải là công cụ trực tiếp và duy nhất để hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.

Mục tiêu hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung vào kiểm soát nguồn cung từ khâu sản xuất, nhập khẩu và nội dung này đã được quản lý chặt theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 của Luật.

Bên cạnh đó còn có chính sách thuế; kiểm soát địa điểm bán, đối tượng mua và hành vi bán hàng.

Trong khi đó, việc cấp giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ hiện nay chủ yếu dựa trên việc xem xét hồ sơ, giấy tờ, chưa trực tiếp quyết định số lượng thuốc lá được đưa ra thị trường cũng như mức độ tiếp cận của người tiêu dùng.

ĐBQH lý giải việc cần tăng diện tích trên bao bì thuốc lá lên ít nhất 85%

Đại biểu Phạm Ngọc Lâm cho rằng, thay vì tập trung vào thủ tục cấp phép ở khâu lưu thông, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về kinh doanh thuốc lá, đặc biệt tại các điểm bán trực tiếp đến người tiêu dùng. Đây là những biện pháp cần được ưu tiên để bảo đảm mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Ở góc độ chi phí tuân thủ, ĐBQH Phạm Ngọc Lâm đưa ra phép tính ước lượng về quy mô tác động của thủ tục; với chi phí khoảng 6 triệu đồng cho một giấy phép có thời hạn 5 năm, bình quân mỗi cơ sở chịu 1,2 triệu đồng/năm; khi áp dụng trên mạng lưới lớn cửa hàng, hộ kinh doanh và thương nhân, tổng chi phí rất đáng kể.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng - nguyên Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Viện Kinh tế và Quản lý Tp.Hồ Chí Minh, cũng nhấn mạnh yêu cầu về tính ổn định của chính sách: "Nguyên tắc quan trọng nhất là bảo đảm tính thống nhất và ổn định của chính sách, tránh tình trạng vừa cắt giảm thủ tục ở nơi này lại phát sinh thêm yêu cầu ở nơi khác. Trong bối cảnh hộ kinh doanh đang phải thích ứng với nhiều thay đổi về thuế, hóa đơn điện tử và kế toán, môi trường pháp lý cần rõ ràng, dễ dự đoán để người dân yên tâm".