
"Diễn đàn kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới" - Ảnh: chinhphu.vn
Mở rộng không gian cho kinh tế số
Tại "Diễn đàn kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới" tổ chức chiều 14/8, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết: Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Điều này cho thấy khoa học công nghệ và chuyển đổi số được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với năng suất, tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mới đây, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030.
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) được ông Bùi Trung Nghĩa dẫn lại, tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.
Tốc độ tăng trưởng hai con số được duy trì trong nhiều năm, đưa kinh tế số Việt Nam vươn lên đứng thứ hai ở Đông Nam Á và thuộc nhóm những nền kinh tế số phát triển nhanh nhất. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi chiếm 2/3 quy mô nền kinh tế số.
Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu phấn đấu tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; có tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Để đạt mục tiêu này, theo Phó Chủ tịch VCCI, cần phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp công nghệ số cần chủ động áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng, đồng thời tăng cường phối hợp, trao đổi và cung cấp thông tin với cơ quan nhà nước theo quy định pháp luật.
Từ thực tế doanh nghiệp, ông Bùi Trung Nghĩa cho rằng việc gắn các hoạt động số mang tính cốt lõi vào mô hình sản xuất kinh doanh có thể nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua tối ưu hóa quy trình, cải thiện khả năng xử lý thông tin và khai thác tốt hơn các yếu tố công nghệ.
Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp, trong đó khoảng 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, dù đã nhận thức được sự cần thiết của ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng.
"Hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo", Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh.
Theo Phó Chủ tịch VCCI, cần đẩy mạnh thu hút nguồn lực khu vực tư nhân vào phát triển các dự án hạ tầng số và quản trị số, được xem là những yếu tố quan trọng để mở rộng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả vận hành nền kinh tế.
Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh kinh tế số đang hiện diện ở tất cả lĩnh vực, cơ sở phát triển kinh tế số đang ở ngay trước mắt. Tuy nhiên, để nắm bắt được cơ hội này, các bên cần cùng hành động nhanh hơn, quyết đoán hơn và sáng tạo hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Doanh nghiệp là trọng tâm của không gian số mới
Ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) nhấn mạnh, không gian chính sách mới đang tạo hành lang pháp lý thuận lợi để nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp phát triển, khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế số.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, theo nghĩa rộng nhất, kinh tế số là quá trình số hóa và ứng dụng nền tảng số vào tất cả ngành nghề truyền thống. Nói cách khác, đây là việc sử dụng công cụ, khái niệm và tiến bộ công nghệ để mở rộng kinh tế số ở quy mô lớn.
Với cách tiếp cận này, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế số còn rất lớn. Trong thế giới phẳng, thị trường xuyên biên giới giúp doanh nghiệp kết nối với người tiêu dùng trên toàn thế giới nhanh chóng.
Đặc biệt, các nền tảng mạng xã hội và thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành công cụ kinh doanh đắc lực cho doanh nghiệp. Cùng với đó, những nguồn lực mới như AI và dữ liệu đang được nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng để thay thế nhân lực và tối ưu hóa đầu vào.
Dẫn số liệu từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), ông Nguyễn Hoa Cương cho biết tổng doanh thu kinh tế số ASEAN giai đoạn 2019-2025 đã vượt 300 tỷ USD và dự kiến đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Con số này có thể tăng gấp đôi lên 2.000 tỷ USD nếu Hiệp ước Khung kinh tế số ASEAN (DEFA) được thông qua.
Tại Việt Nam, khoảng 85,6 triệu người sử dụng internet và số lượng này tiếp tục gia tăng qua các năm, góp phần thúc đẩy kinh tế số phát triển.
Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2025 do Google, Temasek và Bain & Company, Việt Nam là nền kinh tế số có tốc độ phát triển nhanh thứ hai tại Đông Nam Á. Quy mô kinh tế số Việt Nam đạt 39 tỷ USD năm 2025, với mức tăng trưởng hai con số trên nhiều lĩnh vực.
Thương mại điện tử tiếp tục là trụ cột khi chiếm tới 2/3 tổng giá trị hàng hóa kinh tế số. Số người Việt Nam mua hàng trực tuyến đạt 24,3 triệu, chiếm gần 1/4 dân số, với tổng doanh thu tiêu dùng đạt 13,8 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội lớn, ông Nguyễn Hoa Cương cũng chỉ ra những thách thức nội tại đối với phát triển kinh tế số Việt Nam.
Theo Báo cáo Business Ready (B-READY) 2025 của Ngân hàng Thế giới được ông dẫn lại, chỉ số dịch vụ tài chính của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 5/30 nền kinh tế châu Á và thứ 15/101 nền kinh tế trên toàn cầu. Chỉ số dịch vụ tiện ích như điện, nước, hạ tầng viễn thông của Việt Nam cũng đứng thứ 3 châu Á và thứ 4 thế giới.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hoa Cương nhận diện hạn chế về năng lực cạnh tranh, nhất là ở doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khả năng tiếp cận tài chính khó khăn cũng là rào cản đối với hoạt động, mở rộng đầu tư, đáp ứng yêu cầu đổi mới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, các nhóm chính sách tạo động lực tăng trưởng mới không chỉ cần đầy đủ mà còn phải được cụ thể hóa thành văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành.
Quan trọng hơn, cơ quan và tổ chức thực thi cần có tâm thế sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp cảm nhận được sự thân thiện và dễ thực thi của chính sách.
"Cần sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả để từ đó huy động tốt hơn nguồn lực xã hội. Đặc biệt, các chính sách thực thi phát triển kinh tế số cần đặt doanh nghiệp vào vị trí trọng tâm để việc hỗ trợ đạt hiệu quả", ông Nguyễn Hoa Cương nhấn mạnh.
Anh Minh