
Gỗ keo chiếm gần 60% tổng diện tích rừng trồng sản xuất cả nước - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương
Theo Thống kê của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ NN&MT), Việt Nam hiện sở hữu khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm gần 60% tổng diện tích rừng trồng sản xuất cả nước và đóng góp phần lớn vào tổng diện tích 3,5 triệu ha keo trên toàn thế giới. Cây keo không chỉ là nguồn cung nguyên liệu trong nước mà còn gắn liền với sinh kế trực tiếp của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình trồng rừng. Dù vậy, hiệu quả kinh tế thu được từ diện tích rừng trồng khổng lồ này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Thực tế hiện nay, phần lớn rừng keo ở Việt Nam được khai thác ở chu kỳ ngắn (từ 4 đến 5 năm) để phục vụ sản xuất dăm gỗ và viên nén là những mặt hàng có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, nguồn gỗ xẻ, gỗ lớn đạt tiêu chuẩn làm đồ mộc, kiến trúc và sản phẩm xuất khẩu chất lượng cao lại rơi vào tình trạng thiếu hụt, buộc nhiều doanh nghiệp phải phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.
Phân tích về thực trạng này, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) nhận định, Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý lớn: sở hữu nguồn tài nguyên rừng trồng keo thuộc nhóm đầu thế giới nhưng giá trị tạo ra trên mỗi hecta đất rừng lại rất hạn chế. "Câu hỏi đặt ra hiện nay không chỉ dừng lại ở việc trồng bao nhiêu hecta keo, mà quan trọng hơn là làm thế nào để mỗi hecta rừng và mỗi mét khối gỗ keo tạo ra nhiều giá trị hơn, đóng góp thực chất hơn vào sức cạnh tranh của ngành gỗ và nội thất Việt Nam trên thị trường toàn cầu", ông Nguyễn Quốc Khanh nhấn mạnh.
Từ góc độ doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, ông Nguyễn Quốc Khanh cho rằng, để khắc phục tình trạng phân mảnh và nâng cao chuỗi giá trị, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy kinh doanh. Trong một thời gian dài, nhiều doanh nghiệp trong nước duy trì sự hài lòng với mức lợi nhuận dễ dàng từ các yếu tố chi phí thấp hoặc gia công đơn thuần, dẫn đến việc chậm chân hơn so với các doanh nghiệp FDI trong phân khúc hàng cao cấp.
Do đó, chiến lược mới được VIFOREST và các doanh nghiệp hội viên thống nhất là phải chủ động "đi trước một bước" thay vì thụ động đi sau. Đứng ở vị thế quốc gia xuất khẩu sản phẩm gỗ hàng đầu châu Á và thế giới, ngành gỗ Việt Nam hoàn toàn có năng lực dẫn dắt thị trường nếu biết kết nối đồng bộ các khâu.

Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch VIFOREST: "Doanh nghiệp cần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản phẩm, giảm dần tỷ trọng dăm gỗ thô để chuyển sang sản xuất các loại vật liệu chế biến sâu" - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương
Chủ tịch VIFOREST khẳng định: "Giá trị cao nhất của cây keo không được tạo ra ở trên khu rừng, mà được tạo ra ở cuối chuỗi cung ứng". Theo đó, chiến lược phát triển cây keo phải được kết nối thông suốt từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng rừng, công nghệ chế biến, vật liệu, thiết kế, sản xuất cho đến xây dựng thương hiệu và tiếp thị quốc tế.
Doanh nghiệp cần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản phẩm, giảm dần tỷ trọng dăm gỗ thô để chuyển sang sản xuất các loại vật liệu chế biến sâu như veneer, plywood, MDF, particle board, gỗ ghép, gỗ kỹ thuật và các sản phẩm nội thất có hàm lượng thiết kế cao. Khi các mắt xích này được gắn kết, cây keo sẽ trở thành bệ đỡ vững chắc cho ngành chế biến gỗ giá trị cao.
Tháo gỡ nút thắt về vốn, bảo hiểm và liên kết chuỗi
Một trong những lý do khiến 80% diện tích keo của hộ gia đình bị bán non là áp lực tài chính và lo ngại rủi ro thiên tai, bão lũ. Để khuyến khích người dân kéo dài chu kỳ rừng trồng từ 5 năm lên 8 tới 10 năm tạo gỗ lớn, đại diện VIFOREST cho rằng không thể chỉ dùng chính sách vận động đơn thuần mà phải xây dựng một mô hình kinh tế đủ sức hấp dẫn và an toàn.
Để giải bài toán này, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch VIFOREST đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm về cơ chế kinh tế.
Thứ nhất, về vốn tín dụng, cần thiết lập các gói tín dụng lâm nghiệp có thời hạn vay và lãi suất phù hợp với chu kỳ sinh trưởng kéo dài của rừng gỗ lớn, giúp người trồng rừng có nguồn tài chính duy trì cuộc sống trong thời gian chờ thu hoạch. Đồng thời, đẩy mạnh thu hút các quỹ đầu tư tài chính quốc tế tham gia vào các dự án trồng rừng bền vững.
Thứ hai, về quản trị rủi ro, cần xây dựng cơ chế bảo hiểm rừng trồng đối với rủi ro thiên tai, sâu bệnh, kết hợp với việc tích hợp các công cụ tài chính mới như tín chỉ carbon rừng nhằm tạo thêm nguồn thu nhập phụ trợ cho người dân trong thời gian nuôi rừng.
Thứ ba, về liên kết chuỗi, xem xét đẩy mạnh mô hình liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp chế biến với các hợp tác xã và hộ gia đình trồng rừng. Doanh nghiệp cam kết bao tiêu sản phẩm gỗ lớn với giá cả hợp lý, hỗ trợ chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), đảm bảo người trồng rừng thu được lợi ích tương xứng.
Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Quốc Trị khẳng định, ngành lâm nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi tư duy phát triển mạnh mẽ. Chặng đường tiếp theo của cây keo phải chuyển trọng tâm từ mở rộng diện tích, tăng sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, sức chống chịu và tính bền vững.
Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị chỉ đạo, thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ tập trung triển khai các nhóm giải pháp nền tảng: Đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống keo mới có năng suất cao, chất lượng gỗ tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh và thiên tai; Hoàn thiện quy trình kỹ thuật lâm sinh, thâm canh rừng gỗ lớn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trực tiếp tới các hộ trồng rừng nhỏ; Nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững, đẩy mạnh cấp chứng chỉ FSC, truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp theo các chuẩn mực quốc tế; Tăng cường liên kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu tập trung với các nhà máy chế biến sâu.
Ở góc độ nghiên cứu ứng dụng, ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho biết thêm, biến đổi khí hậu và sự xuất hiện của các loại sâu bệnh hại lá, đốm lá, mục thân đang gây tổn thất không nhỏ cho người trồng keo. Để hỗ trợ doanh nghiệp và chủ rừng, Viện xác định 6 hướng ưu tiên nghiên cứu chiến lược, bao gồm: chọn tạo giống kháng bệnh và chịu bão; đa dạng hóa loài cây trồng theo vùng sinh thái; hoàn thiện kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn; ứng dụng chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh; phát triển công nghệ chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng bền vững.
Sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp tại diễn đàn đã mở ra định hướng rõ ràng cho chuỗi giá trị cây keo. Việc chuyển dịch từ khai thác thô sang chế biến tinh, từ sản lượng sang chất lượng không chỉ giúp ngành gỗ Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030, mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho hàng triệu hộ nông dân gắn bó với rừng.
Đỗ Hương