Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp trong quý III/2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 12,3% so với cùng kỳ, đây cũng là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng rộng khắp

Sáng 3/10, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2026.

Theo số liệu thống kê, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực trong quý III, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 9% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019.

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính khi tăng 12,9%, cao hơn mức tăng 10,3% cùng kỳ năm trước, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Đối với các ngành còn lại, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm, ngành khai khoáng tăng 8%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm.

Đánh giá về kết quả trên, bà Phí Thị Hương Nga - Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Cục Thống kê (Bộ Tài chính), cho rằng công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng GDP, đồng thời đà tăng trong 9 tháng qua có độ lan tỏa rộng rãi trên khắp các địa phương, ngành công nghiệp cấp 2 và các khu vực doanh nghiệp.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019- Ảnh 1.

Bà Phí Thị Hương Nga - Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) (Ảnh: VGP).

"Sự tăng trưởng của sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm không chỉ đơn lẻ tập trung vào các khu vực như FDI hay những ngành công nghiệp có lợi thế xuất khẩu", bà Nga đánh giá.

Điều này được biểu hiện rõ hơn qua chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2026 của nhiều ngành công nghiệp trọng điểm cấp II nhìn chung cũng tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, sản xuất kim loại tăng 25,5%, sản xuất đồ uống tăng 17,4%, sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%.

Một số ngành khác cũng ghi nhận mức tăng hai con số như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%, sản xuất phương tiện vận tải khác và sản xuất chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%.

Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan chỉ tăng 3,4%, trong khi khai thác than cứng và than non gần như đi ngang với mức tăng 0,1%.

Xét theo địa phương, theo Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.

Đáng chú ý, tại một số địa phương, công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng cao. Hà Tĩnh tăng 40%, Quảng Ninh tăng 33,6%, Bắc Ninh tăng 29,3%, Nghệ An tăng 25,8%, Thái Nguyên tăng 23,7%.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019- Ảnh 2.

Theo số liệu từ Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.

Ở ngành sản xuất và phân phối điện, Quảng Trị có mức tăng 109%, Hà Tĩnh tăng 49,5%, Hưng Yên tăng 15,3% và Phú Thọ tăng 13%.

Ở chiều đối lập, một số địa phương ghi nhận mức tăng thấp hoặc giảm ở từng nhóm ngành. Trong công nghiệp chế biến, chế tạo, Lạng Sơn tăng 2,3%, trong khi Đà Nẵng giảm 1,5%. Đối với ngành sản xuất và phân phối điện, Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,1%, Lai Châu tăng 3,6%, Sơn La giảm 1,4%. Trong ngành khai khoáng, Đà Nẵng giảm 70,4%, Lào Cai giảm 8,8% và Khánh Hòa giảm 4,3%.

Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực có tín hiệu tích cực

Cùng với đà tăng của hoạt động sản xuất, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 9 tháng năm 2026 ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, máy tính bảng tăng 36,5%, xe máy tăng 28,1%, máy tính xách tay tăng 26,2%, ô tô tăng 24,8%, thép cán tăng 22,4%, thủy hải sản chế biến tăng 21,9%.

Một số sản phẩm khác cũng tăng khá như đường kính tăng 18,8%, thép thanh, thép góc tăng 17,1%, bia tăng 14,7%, sắt, thép thô tăng 13,3%, thức ăn cho thủy sản tăng 12%. Dẫu vậy, số liệu cho thấy một số sản phẩm lại có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Bột ngọt giảm 7,7%, phân hỗn hợp NPK giảm 7,1%, khí hóa lỏng LPG và giày, dép da cùng giảm 3,9%.

Cùng với sản xuất, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 9/2026 giảm 0,5% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 17,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 9,1% của cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2026 ước tăng 4,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.

Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 10,8%, đạt mức cao nhất 7 nămSản xuất công nghiệp quý I/2026 bật tăng, đạt mức cao nhất trong 7 năm

Về lao động, số người đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/9/2026 tăng 1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước.

Xét theo ngành hoạt động, lao động trong các doanh nghiệp khai khoáng không đổi so với tháng trước nhưng giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm trước. Lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước.

Lao động trong ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng thời điểm năm trước. Đối với ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải, số lao động giảm 0,5% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 3,7% so với cùng thời điểm năm trước.

Doanh nghiệp đặt kỳ vọng vào quý IV

Bên cạnh những kết quả tích cực thời gian qua, bà Phí Thị Hương Nga cho rằng tăng trưởng công nghiệp vẫn có sự phân hóa giữa các nhóm ngành. Theo đó, một số ngành thâm dụng lao động và là nhóm ngành truyền thống của Việt Nam như dệt may, da giày đang có tốc độ tăng chậm hơn.

Theo bà Nga, qua thông tin nắm bắt từ các doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu đến từ sức ép của giá cước vận tải biển neo cao cũng như các rào cản thương mại, qua đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may và da giày.

Về triển vọng quý IV/2026, bà Nga cho biết kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đang ở mức tích cực.

Theo đó, 83,9% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý IV so với quý III sẽ tốt hơn hoặc giữ ổn định, trong khi 16,1% doanh nghiệp cho rằng tình hình có thể khó khăn hơn.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019- Ảnh 3.

Doanh nghiệp công nghiệp kỳ vọng hoạt động sản xuất, đơn hàng và lao động tiếp tục duy trì đà tăng trong quý IV/2026.

Kỳ vọng tích cực được thể hiện ở cả đơn hàng, sản lượng và lao động. Có 85,6% doanh nghiệp dự báo đơn hàng mới trong quý IV tăng hoặc giữ nguyên, 85% dự báo đơn hàng xuất khẩu tăng hoặc giữ nguyên. Về sản lượng, 85,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất quý IV tăng hoặc giữ ổn định. Trong khi đó, 90,2% doanh nghiệp dự kiến lao động sẽ tăng hoặc giữ ổn định.

Công suất sử dụng máy móc, thiết bị bình quân quý III đạt 76,1%, cao hơn các quý trước, được bà Nga đánh giá là một trong những cơ sở để sản xuất công nghiệp tiếp tục gia tăng sản lượng trong quý IV.

Từ những kết quả trên, bà Nga cho rằng sản xuất công nghiệp trong 9 tháng đầu năm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực và xu hướng này có thể kéo dài sang quý IV/2026. Tuy nhiên, để bảo vệ đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm, bà Nga cho rằng cần tập trung vào một số giải pháp.

Trước hết là quản trị rủi ro chuỗi cung ứng và chuỗi logistics để ứng phó nhanh với những biến động của thị trường quốc tế. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy nhanh các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư công và các dự án đầu tư tư nhân quy mô lớn nhằm kích cầu các ngành sản xuất vật liệu xây dựng và cơ khí. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần được hỗ trợ để vận dụng tối đa lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA).