Bài 4: Để hạt lúa rời đồng mà không... rớt giá

Admin
(Chinhphu.vn) - Giảm giống, giảm phân bón, quản lý nước và đưa công nghệ vào đồng ruộng chỉ mới giải quyết được một phần bài toán. Để Đề án 1 triệu ha thực sự làm thay đổi đời sống người trồng lúa, giá trị được tạo ra từ vùng nguyên liệu chất lượng cao, phát thải thấp phải trở lại cánh đồng bằng hợp đồng minh bạch, đầu ra ổn định và cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng.
Bài 4: Để hạt lúa rời đồng mà không... rớt giá- Ảnh 1.

Thu hoạch là thời điểm các cam kết về giá, sản lượng và tiêu thụ lúa liên kết được kiểm chứng - Ảnh: VGP/LS

Người nông dân không còn bán lúa trong thế bị động

Ông Vũ Đăng Khoa, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Minh Hà (xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau) vẫn nhớ thời hợp tác xã mới chỉ tập hợp bà con cùng sản xuất, lúa làm ra chủ yếu chờ thương lái đến mua. Khi thu hoạch đồng loạt, nông dân gần như không có nhiều lựa chọn. "Thương lái thu mua tìm đủ đường để ép giá", ông kể.

Tình trạng đó chính là điểm yếu kéo dài của sản xuất lúa nhỏ lẻ: Nông dân thu hoạch cùng thời điểm, khả năng bảo quản thấp, không biết trước giá và gần như không đủ sức thương lượng.

Theo ông Khoa, sự thay đổi bắt đầu khi Nhà nước hỗ trợ, doanh nghiệp tham gia đầu tư vật tư và bao tiêu sản phẩm. Những doanh nghiệp như Tập đoàn Lộc Trời còn tìm hiểu cách làm từ cung ứng đầu vào đến tổ chức kỹ sư "3 cùng" trực tiếp xuống ruộng. 

Người nông dân vì thế biết ngay từ đầu sẽ sản xuất loại lúa nào, theo tiêu chuẩn nào, ai thu mua và xác định giá ra sao. Đó chính là bước chuyển từ "trồng được bao nhiêu bán bấy nhiêu" sang sản xuất theo nhu cầu thị trường; nông dân chỉ gắn bó lâu dài khi có lợi nhuận và được chia sẻ giá trị tăng thêm.

Hợp đồng phải giữ được niềm tin sau mùa thu hoạch

Tại xã Khánh Bình, chương trình hành động vụ Hè Thu 2026 đã cụ thể hóa chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ. Xã dự kiến quy hoạch 300-400 ha liên kết với doanh nghiệp; các đơn vị liên quan ký hợp đồng sản xuất, tiêu thụ với từng hộ dân, đồng thời cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và dịch vụ nông nghiệp. Nếu lúa đạt tiêu chuẩn EU, doanh nghiệp cam kết cộng thêm 300 đồng/kg.

Trong giai đoạn thu hoạch dự kiến vào tháng 9 và 10/2026, kế hoạch đặt ra việc chốt giá trước thu hoạch 10 ngày, phấn đấu thu mua 90-100% sản lượng lúa liên kết và thanh toán sau thu hoạch từ 5-7 ngày. Những điều khoản ấy biến khái niệm "chia sẻ giá trị" thành các tiêu chí cụ thể: Tiêu chuẩn chất lượng, mức thưởng, thời điểm chốt giá, tỉ lệ sản lượng được mua và thời hạn người dân nhận tiền.

Ông Đặng Chí Nguyễn, Chủ tịch UBND xã Khánh Bình cho rằng, liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và hợp tác xã phải tạo nền tảng cho đầu ra, giúp nông dân yên tâm sản xuất khi có doanh nghiệp bao tiêu với giá ổn định, minh bạch. Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa cấp xã vì thế không chỉ vận động diện tích, mà còn phải triển khai kế hoạch và xử lý những vấn đề nảy sinh ngay từ cơ sở.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử cũng yêu cầu xây dựng hợp đồng liên kết chuỗi, thiết lập hệ thống giám sát kỹ thuật và ứng dụng công nghệ. Theo ông, sau mỗi cuộc làm việc phải thấy rõ đã làm được gì, khó khăn nào còn tồn tại và kế hoạch xử lý ra sao; Đề án không thể chỉ dừng ở cam kết hoặc diện tích đăng ký. 

Bài 4: Để hạt lúa rời đồng mà không... rớt giá- Ảnh 2.

Lãnh đạo Tập đoàn Lộc Trời trao đổi với bà con nông dân xã Mỹ Thuận, tỉnh An Giang- Ảnh: VGP/LS

Hợp tác xã: Tổ chức đại diện thực sự chứ không chỉ đứng tên hợp đồng

Một hộ nông dân chỉ có thể thương thảo hợp đồng bằng sản lượng của vài thửa ruộng. Khi nhiều hộ cùng tham gia hợp tác xã, sản lượng được tập hợp thành vùng nguyên liệu lớn, có quy trình và chất lượng tương đối đồng nhất; vị thế của người trồng lúa được nâng lên bằng sức mạnh của tổ chức đại diện.

Theo ông Vũ Đăng Khoa, hợp tác xã phải trở thành điểm nối của vật tư, kỹ thuật, hợp đồng và thông tin thị trường. Đồng thời, ban quản trị phải nắm diện tích, quy trình, sản lượng; theo dõi cam kết và bảo vệ quyền lợi người dân. Ông mong chính quyền, doanh nghiệp và Ban Chỉ đạo cùng vào cuộc để liên kết "4 nhà" tạo niềm tin, cải thiện đời sống xã viên.

Ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, cũng xác định hợp tác xã là cầu nối giữa nông dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý; tổ chức sản xuất tập trung, thống nhất lịch thời vụ, quản lý nhật ký và liên kết tiêu thụ. Nhưng quản trị của một số hợp tác xã còn chậm đổi mới, khả năng liên kết với doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất quy mô lớn vẫn hạn chế.

Ông Huỳnh Văn Thòn cho rằng hợp tác xã là "hạt nhân tổ chức sản xuất": Tập hợp những thửa ruộng nhỏ thành vùng lớn, thống nhất kỹ thuật, quản lý chất lượng và đại diện cho nông dân làm việc với doanh nghiệp.

Vì thế, hợp tác xã không thể chỉ đứng tên trên hợp đồng hoặc làm trung gian chuyển thông báo của doanh nghiệp đến xã viên. Một tổ chức đại diện thực sự phải đủ năng lực thương lượng giá, giám sát chất lượng vật tư, theo dõi quá trình thu mua và phản ánh kịp thời những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

Ngược lại, hợp tác xã cũng phải giữ kỷ luật của vùng nguyên liệu. Nếu một số xã viên không tuân thủ quy trình, sử dụng vật tư ngoài danh mục hoặc bán lúa ra ngoài khi giá thị trường biến động, uy tín của cả vùng sản xuất sẽ bị ảnh hưởng. Bảo vệ quyền lợi của nông dân vì thế phải đi cùng trách nhiệm giữ cam kết với doanh nghiệp.

Giữ chất lượng sau thu hoạch để tạo chuỗi giá trị hoàn chỉnh

Hạt lúa đạt chuẩn trên ruộng chưa đồng nghĩa toàn bộ giá trị sẽ được giữ lại đến thị trường. Thu hoạch không đúng thời điểm, thiếu máy sấy, kho bảo quản hoặc vận chuyển, chế biến không đồng bộ đều có thể làm chất lượng suy giảm, khiến công sức tuân thủ quy trình khó chuyển thành giá bán cao hơn.

Ông Huỳnh Văn Thòn cho rằng điều doanh nghiệp trăn trở nhất là làm sao để nông dân yên tâm sản xuất lâu dài. Muốn vậy, chuỗi giá trị phải ổn định từ hạ tầng thủy lợi, logistics đến cơ chế liên kết, tín dụng và tiêu thụ; hợp tác xã cần cơ chế thuận lợi hơn để thực sự trở thành cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp và thị trường.

Theo ông Lê Hữu Toàn, doanh nghiệp là động lực của chuỗi giá trị: Cung cấp vật tư, bao tiêu, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Chỉ khi doanh nghiệp tham gia xuyên suốt chuỗi thì giá trị về chất lượng, truy xuất và giảm phát thải mới được nhận diện.

Tại Cà Mau, ông Nguyễn Trần Thức, Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết giảm giống, giảm phân và quản lý nước ngập-khô xen kẽ giúp giảm chi phí, đồng thời nâng năng suất và chất lượng lúa. Do vậy, sản phẩm ở các mô hình được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn, mức chênh hiện ghi nhận khoảng 10%. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ lúa phát thải thấp vẫn chưa tương xứng với quy mô Đề án hướng tới.

Nếu vùng sản xuất mở rộng nhanh hơn năng lực thu mua, sấy, bảo quản và chế biến, phần giá trị tăng thêm vẫn có thể rơi rụng trước khi đến thị trường, người trồng lúa vẫn là người chịu thiệt đầu tiên.

Đây là khoảng cách giữa một mô hình kỹ thuật thành công và một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nông dân có thể làm đúng từ đầu vụ, nhưng nếu chất lượng không được giữ sau thu hoạch, sản phẩm không được phân loại hoặc truy xuất rõ ràng, lúa phát thải thấp vẫn có nguy cơ được mua bán như lúa sản xuất thông thường.

Bài 4: Để hạt lúa rời đồng mà không... rớt giá- Ảnh 3.

Kiểm tra chất lượng gạo tại Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh Lộc, tỉnh Cà Mau - Ảnh: VGP/LS

Phần tăng thêm phải về với người trồng lúa

Phần giá trị tăng thêm không thể chỉ được đo bằng giá thu mua ở một vài mô hình. Nó phải hiện hữu trong cả chuỗi: Nông dân giảm chi phí, có đầu ra ổn định; hợp tác xã có nguồn lực tổ chức; doanh nghiệp có vùng nguyên liệu đạt chuẩn; thị trường nhận được sản phẩm minh bạch và giảm phát thải.

Ông Huỳnh Văn Thòn nhấn mạnh mục tiêu quan trọng nhất là lượng hóa được lợi nhuận và giá trị gia tăng mà nông dân nhận được. Theo ông, mô hình cấp xã phải giúp giảm xung đột lợi ích, tăng chia sẻ lợi nhuận; cơ chế chia sẻ phải đủ hài hòa để tất cả các bên đều có động lực tham gia lâu dài.

Với ông Vũ Đăng Khoa, lợi ích trước mắt là nông dân không còn đơn độc khi mua vật tư đầu vào và bán lúa đầu ra. Nhưng niềm tin chỉ được giữ nếu doanh nghiệp làm đúng cam kết, hợp tác xã đại diện được cho xã viên và chính quyền kịp thời xử lý vướng mắc. Sau gần 20 năm điều hành hợp tác xã, điều khiến ông tự hào nhất là đời sống bà con được nâng lên và người dân ngày càng tin vào cách làm chung.

Giá trị tương lai có thể đến từ chất lượng, thương hiệu, thị trường cao cấp, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. Nhưng dù mang tên gọi nào, phần tăng thêm phải trở lại với người trực tiếp tuân thủ quy trình và chịu rủi ro. Khi nông dân nhìn thấy thu nhập tốt hơn, sự thay đổi mới được duy trì bằng chính lợi ích của mô hình.

Từ những hợp đồng và công việc đang được cụ thể hóa ở các xã như Khánh Bình, Định Mỹ hay Tam Nông, bài toán của Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao đã đi xa hơn chuyện bán một vụ lúa: Người nông dân phải có vị thế tốt hơn, hợp tác xã đủ mạnh, doanh nghiệp đồng hành lâu dài và giá trị không rơi rụng trên đường đến thị trường.

Nhưng chuỗi giá trị bền vững vẫn chưa phải đích đến cuối cùng. Điều quyết định tương lai của Đề án là liệu những thay đổi ấy có thể trở thành cách làm phổ biến, tự tồn tại khi nguồn hỗ trợ giảm đi và giúp người trồng lúa sống khấm khá hơn trên chính mảnh ruộng của mình hay không.

Lê Sơn

Bài 5: 'Phép thử' lớn đối Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao?

Tham khảo thêm
Đề án 1 triệu ha lúa: Khi chính quyền cấp xã trở thành 'nhạc trưởng' trên cánh đồngĐề án 1 triệu ha lúa: Khi chính quyền cấp xã trở thành 'nhạc trưởng' trên cánh đồng
Tham khảo thêm
Đưa Đề án 1 triệu hecta lúa từ chủ trương đến từng cánh đồngĐưa Đề án 1 triệu hecta lúa từ chủ trương đến từng cánh đồng
Tham khảo thêm
Vùng liên kết: 'Đầu kéo' mới cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao ở ĐBSCLVùng liên kết: 'Đầu kéo' mới cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao ở ĐBSCL
Tham khảo thêm
An Giang tạo dấu ấn trong thực hiện Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấpAn Giang tạo dấu ấn trong thực hiện Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp
Tham khảo thêm
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Sau 2 năm vượt 197% mục tiêu, mở đường cho nông nghiệp xanhĐề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Sau 2 năm vượt 197% mục tiêu, mở đường cho nông nghiệp xanh
Tham khảo thêm
Đề án 1 triệu hecta lúa: Hạt gạo mang theo khát vọng phát triển bền vữngĐề án 1 triệu hecta lúa: Hạt gạo mang theo khát vọng phát triển bền vững
Tham khảo thêm
Cần Thơ quyết liệt triển khai Đề án 1 triệu ha lúa, hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp bền vữngCần Thơ quyết liệt triển khai Đề án 1 triệu ha lúa, hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp bền vững