
GS. TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo quốc tế về giải pháp lúa gạo phát thải thấp - Ảnh: VGP/LS
Ngày 22/7, tại thành phố Cần Thơ, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với các đối tác tổ chức Hội thảo quốc tế "Giải pháp lúa gạo phát thải thấp tại châu Á: Đổi mới sáng tạo khu vực và lộ trình nhân rộng".
Hội thảo diễn ra từ ngày 22-24/7, quy tụ hơn 100 đại biểu, trong đó có các nhà khoa học đến từ hơn 10 quốc gia khu vực châu Á.
Không chỉ sản xuất nhiều hơn
Phát biểu khai mạc, GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam nhấn mạnh, cây lúa giữ vị trí trung tâm trong nền nông nghiệp, kinh tế và văn hóa châu Á. Với hàng tỷ người, lúa gạo là lương thực thiết yếu, nền tảng sinh kế ở nông thôn và trụ cột an ninh lương thực.
Ngành lúa gạo đang đứng trước sức ép kép: Biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, trong khi sản xuất phải giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí mê-tan. Theo tài liệu hội thảo, lúa gạo bảo đảm sinh kế cho hơn 3,5 tỷ người; châu Á đóng góp 90% sản lượng lúa gạo thế giới. Năm 2023, Việt Nam sản xuất khoảng 43,5 triệu tấn lúa và xuất khẩu 8,3 triệu tấn gạo.
"Thách thức lớn nhất của chúng ta ngày nay không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra nhiều lúa gạo hơn, mà là phải sản xuất một cách bền vững hơn: Phát thải thấp hơn, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu tốt hơn, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn và đem lại thu nhập cao hơn cho người nông dân", GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ.
Để đạt các mục tiêu về sản lượng, môi trường và thu nhập, ngành lúa gạo cần bứt phá về khoa học, công nghệ, chính sách và hợp tác. Giống lúa chống chịu bất lợi, quản lý nước cải tiến, gieo sạ cơ giới hóa, quản lý rơm rạ, giám sát kỹ thuật số và tài chính carbon đang mở ra cơ hội chuyển đổi, nhưng công nghệ mới chỉ là bước đầu.
Khoa học phải được nông dân đón nhận
GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn cho rằng thành tựu khoa học chỉ tạo ra tác động khi được nông dân đón nhận và áp dụng hiệu quả. Thách thức không chỉ là nghiên cứu giống hay quy trình mới, mà phải nhân rộng qua khuyến nông, chính sách, cơ chế thị trường, số hóa và hợp tác giữa nhà khoa học, chính quyền, doanh nghiệp với nông dân.
"Khoa học và đổi mới sáng tạo phải phụng sự nông dân và xã hội, mang lại những giải pháp thiết thực, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và tính bền vững của môi trường", Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam khẳng định.
Báo cáo của các nhà nghiên cứu Võ T.B. Thương và Ando M. Radanielson thuộc Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế chỉ ra sản xuất lúa vừa là nguồn phát thải mê-tan lớn, vừa có dư địa giảm phát thải đáng kể nếu thay đổi kỹ thuật canh tác.
Theo nhóm nghiên cứu, khí methane được tạo ra bởi vi sinh vật trong điều kiện yếm khí, là nguồn phát thải chủ yếu trên ruộng lúa ngập nước. Phát thải tăng khi bổ sung rơm rạ, phân chuồng; còn phát thải nitrous oxide tăng khi sử dụng phân đạm. Do đó, cần quản lý đồng bộ nước, phân bón và phụ phẩm.
Các kết quả cho thấy tiềm năng giảm thiểu phát thải của cây lúa trên toàn cầu đạt 36%, cao hơn chăn nuôi ở mức 9% và đất trồng trọt ở mức 3%. Dùng giống ngắn ngày, điều chỉnh thời gian vùi rơm rạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý phân bón và phụ phẩm có thể góp phần giảm đến 65% khí mê-tan.

Hơn 100 đại biểu và nhà khoa học trong, ngoài nước tham dự Hội thảo quốc tế về lúa gạo phát thải thấp tại Cần Thơ - Ảnh: VGP/LS
Từ giống chống chịu đến hệ thống hạt giống
TS. Mary Jean Du, Trưởng nhóm Chọn tạo giống khu vực Đông Nam Á thuộc Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế (IRRI), giới thiệu Dự án AFACI RSR nhằm thúc đẩy công nhận và phân phối hạt giống của các giống lúa chống chịu điều kiện bất thuận tại các quốc gia thành viên AFACI.
Giai đoạn 2025-2029 tập trung mở rộng quy mô, củng cố hệ thống hạt giống và phát triển tính trạng mới. Dự án đặt mục tiêu xây dựng quan hệ đối tác tại 10 quốc gia, triển khai giống phù hợp từng phân khúc thị trường, thúc đẩy nông dân chấp nhận và tăng tốc độ thay thế giống trên đồng ruộng.
Quy trình mở rộng quy mô bao gồm lựa chọn địa điểm, xác định nông dân hợp tác, huy động các bên liên quan, trình diễn và thu thập dữ liệu. Các dòng, giống ưu tú của IRRI mang tính trạng mới được đánh giá đa điểm trong ít nhất hai vụ, làm cơ sở công nhận và đưa vào sản xuất.
Cách tiếp cận này bổ sung cho yêu cầu GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn đặt ra: Công nghệ phải đi đến đồng ruộng. Giống lúa chống chịu chỉ tạo ra giá trị khi phù hợp sinh thái, thị trường, được cung ứng bằng hệ thống hạt giống linh hoạt và được nông dân lựa chọn.
Tổ chức lại cả chuỗi giá trị
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu chuyển đổi càng cấp thiết khi vùng có diện tích gieo trồng lúa khoảng 3,9 triệu ha mỗi năm, sản lượng 24,2 triệu tấn, chiếm 56% sản lượng cả nước, năng suất bình quân 6,2 tấn mỗi ha.
Nhóm tác giả Lê Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hùng và Đinh Kim Dũng chỉ ra canh tác truyền thống còn sử dụng lượng giống trên 120 kg mỗi ha, lượng phân bón trên 110 kg nitơ mỗi ha; ngập nước liên tục, vùi rơm tươi và đốt rơm rạ làm tăng phát thải, thất thoát dinh dưỡng.
Báo cáo cũng nêu gieo sạ dày làm lúa đổ ngã, gây tổn thất khi thu hoạch; thu hoạch tập trung trong khi năng lực sấy hạn chế có thể làm tổn thất sau thu hoạch từ 10% trở lên. Vì vậy, giảm phát thải cần tích hợp từ giống, gieo sạ, dinh dưỡng, nước, rơm rạ, thu hoạch, sấy, chế biến đến thị trường.
Theo nhóm tác giả, Đề án 1 triệu ha là cơ hội tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Các hướng hợp tác gồm cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số, công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn, hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định, tín chỉ carbon, thương hiệu "Gạo Việt Xanh - Phát thải thấp" và thay đổi hành vi sản xuất.
Nhân rộng bằng hợp tác khu vực
TS. Ngô Đức Minh, chuyên gia nghiên cứu về sản xuất lúa phát thải thấp của Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, thành viên Ban tổ chức hội thảo đánh giá: Hội thảo tại Cần Thơ có ý nghĩa đặc biệt, bởi Đồng bằng sông Cửu Long vừa là vựa lúa lớn nhất Việt Nam, vừa chịu tổn thương nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Đây là không gian kiểm chứng các hệ thống lúa gạo thích ứng, phát thải thấp. Hội thảo cũng là diễn đàn để các quốc gia châu Á chỉ ra các đổi mới sáng tạo cốt lõi, các thách thức chính cũng như các điều kiện cần và đủ để sản xuất lúa phát thải thấp trong khu vực; xác định rõ các lỗ hổng về mặt chính sách, hướng nghiên cứu và năng lực thực tế để làm cơ sở định hình các chủ đề hợp tác trong tương lai.
Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Đề án 1 triệu ha không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn nâng chất lượng hạt gạo, hoàn thiện chuỗi giá trị, tăng thu nhập cho nông dân, bảo vệ tài nguyên và nâng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam.
Theo GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, biến đổi khí hậu không có ranh giới quốc gia và hợp tác khoa học cũng vậy. Chia sẻ tri thức và công nghệ là con đường tăng tốc chuyển đổi. Hội thảo mở đầu chuỗi hoạt động giai đoạn 2026-2029, hướng tới thiết lập "Cộng đồng thực hành sản xuất lúa gạo bền vững".
Từ nghiên cứu giảm mê-tan, chọn tạo giống chống chịu đến tổ chức chuỗi giá trị, các ý kiến tại hội thảo gặp nhau ở một điểm: Sản xuất lúa phát thải thấp chỉ có thể nhân rộng khi giải pháp kỹ thuật đi cùng lợi ích kinh tế, thị trường và năng lực của nông dân. Khi khoa học tạo ra thay đổi trên đồng ruộng, tăng trưởng xanh mới trở thành động lực cho ngành lúa gạo.
* Theo chương trình, các đại biểu sẽ đi tham quan mô hình lúa phát thải thấp, gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh đến năm 2030 của Chính phủ.
Lê Sơn