Khơi thông thị trường vốn, tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Ngày 23/7 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn”, tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và nhà đầu tư về những giải pháp phát triển thị trường vốn nhanh, an toàn, minh bạch và bền vững.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nhu cầu nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng mới đang đặt ra ở quy mô chưa từng có. Theo tính toán của Bộ Tài chính được công bố tại sự kiện, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm và gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Áp lực vốn dài hạn và bài toán phụ thuộc tín dụng
Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra yêu cầu phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn và bền vững.
Nghị quyết đồng thời yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế đối với thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế trung gian; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng hàng hóa, minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
Đây là định hướng đặc biệt quan trọng khi cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP đến cuối năm 2025 ở mức khoảng 146%, thuộc nhóm cao đối với các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp.
Đáng chú ý, một phần đáng kể nhu cầu tín dụng trung và dài hạn hiện vẫn được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn. Sự lệch pha về kỳ hạn không chỉ tạo áp lực thanh khoản cho các tổ chức tín dụng mà còn làm gia tăng rủi ro đối với toàn hệ thống nếu nền kinh tế tiếp tục dựa chủ yếu vào “một chân” ngân hàng.
Trong khi đó, các kênh dẫn vốn trực tiếp như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và những định chế tài chính phi ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa phát triển.
Thị trường chứng khoán mở rộng nhưng chưa tương xứng tiềm năng
Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được dẫn tại hội thảo, tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025.
Thị trường có 54 doanh nghiệp đạt mức vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó bốn doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD. Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP.
Tổng giá trị huy động qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp đạt 325.300 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm 2025. Các con số cho thấy thị trường chứng khoán đang từng bước phát huy vai trò là kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, quy mô dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng một triệu tỷ đồng, tương đương gần 10% GDP. So với yêu cầu huy động vốn cho giai đoạn phát triển mới cũng như mặt bằng tại nhiều nền kinh tế trong khu vực, kết quả này vẫn còn khiêm tốn.
Việc mở rộng thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các định chế đầu tư dài hạn vì thế không chỉ nhằm tăng thêm một kênh huy động vốn. Điều quan trọng hơn là tạo ra một cấu trúc tài chính cân bằng, trong đó nguồn vốn được phân bổ đúng kỳ hạn, đúng mức độ rủi ro và đúng nhu cầu của từng lĩnh vực.
Theo dự báo của HSBC và Ngân hàng Thế giới được nêu tại hội thảo, Việt Nam có thể thu hút khoảng 8-10 tỷ USD vốn đầu tư trong dài hạn khi quyết định nâng hạng thị trường chứng khoán có hiệu lực. Dòng vốn này sẽ tạo thêm động lực cho thị trường, song khả năng hấp thụ và giữ chân nhà đầu tư vẫn phụ thuộc vào chất lượng hàng hóa, mức độ minh bạch và năng lực quản trị.
Thị trường cần lớn hơn, nhưng trước hết phải minh bạch hơn
Phân tích những thách thức đang đặt ra, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra năm nhóm rủi ro lớn của thị trường chứng khoán, gồm: mức độ biến động cao; dòng tiền và vốn hóa tập trung vào một số ngành, doanh nghiệp lớn; tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao và tâm lý đám đông mạnh; tính minh bạch, chuyên nghiệp còn hạn chế; sản phẩm và cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng.
Thị trường cũng phải đối mặt với sự gia tăng của các nguy cơ về an ninh mạng, an toàn thông tin, dữ liệu và tội phạm tài chính. Trong khi đó, hệ thống công nghệ, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, hoạt động xếp hạng tín nhiệm và chế độ báo cáo tài chính vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện.
Theo TS. Cấn Văn Lực, một trong những điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý dành cho các sản phẩm, mô hình kinh doanh tài chính mới còn chậm; vấn đề sở hữu chéo tuy đã được xử lý từng bước nhưng vẫn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Từ thực tế này, ông kiến nghị xây dựng một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.
“Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp”, TS. Cấn Văn Lực đề xuất.
Xây dựng ba nền tảng cho thị trường vốn bền vững
Theo các chuyên gia, một thị trường vốn phát triển bền vững không thể chỉ được đo bằng tốc độ tăng chỉ số, số lượng tài khoản hay quy mô giao dịch. Chất lượng thị trường phải được thể hiện qua khả năng bảo vệ nhà đầu tư, phân bổ hiệu quả nguồn lực và kiểm soát các rủi ro liên thông.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng cốt lõi: thể chế đáng tin cậy; thông tin, dữ liệu minh bạch; kỷ luật thị trường nghiêm minh.
Đi cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia cùng hệ thống cảnh báo sớm; từng bước chuyển từ phương thức tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.
Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn, việc phát triển đồng bộ thị trường vốn trở thành một yêu cầu mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là giải pháp bổ sung cho tín dụng ngân hàng. Một thị trường minh bạch, đa tầng và có chiều sâu sẽ giúp dòng tiền đi đến những dự án có hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho hạ tầng, dịch vụ, du lịch, chuyển đổi xanh và các ngành kinh tế mới.
Bài toán của giai đoạn tới vì thế không đơn thuần là huy động đủ 38,5 triệu tỷ đồng, mà còn là huy động bằng kênh nào, phân bổ ra sao và kiểm soát rủi ro như thế nào. Chỉ khi giải quyết đồng thời ba vấn đề này, thị trường vốn mới thực sự trở thành bệ đỡ cho mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng vẫn an toàn và bền vững.