
Việc quy định trách nhiệm phối hợp và cung cấp thông tin của các tổ chức tín dụng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời góp phần phòng ngừa gian lận và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật
Cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa lên tiếng làm rõ một số thông tin liên quan đến trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức tín dụng phục vụ công tác quản lý thuế.
Theo cơ quan này, thời gian qua xuất hiện thông tin cho rằng Bộ Tài chính đã "bỏ đề xuất ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế" trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế. Tuy nhiên, Cục Thuế khẳng định đây là cách hiểu chưa đầy đủ về nội dung dự thảo.
Hiện Dự thảo Nghị định xin ý kiến thẩm định Bộ Tư Pháp, khoản 3 và 7 Điều 61 quy định:
"Điều 61. Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến, tổ chức thẻ quốc tế
…3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến, tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế khi phát hiện các trường hợp có giao dịch bất thường cần kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế".
7. Nội dung, hình thức, phương thức, thời hạn trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán:
a) Nội dung cung cấp thông tin:
a.1) Thông tin theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 40 Luật Quản lý thuế gồm: tên chủ tài khoản, ngày sinh, nơi mở tài khoản, mã số thuế, địa chỉ, quốc gia cư trú, và thông tin định danh hợp pháp khác của chủ tài khoản; số hiệu tài khoản; ngày mở, ngày đóng tài khoản;
a.2) Thông tin, dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế gồm số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, thông tin bên chuyển và bên nhận của giao dịch, thông tin về giao dịch trong và ngoài nước của người nộp thuế; số dư tài khoản, số dư cuối kỳ, thu nhập phát sinh từ tài khoản và các thông tin có liên quan khác phục vụ công tác quản lý thuế;
a.3) Thông tin, dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản, người thụ hưởng và các bên liên quan;
a.4) Thông tin về các giao dịch bất thường, đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền;
a.5) Thông tin theo tiêu chuẩn báo cáo thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam và các báo cáo khác phù hợp với tiêu chuẩn của Diễn đàn toàn cầu theo quy định tại Điều 63 Nghị định này.
Hơn nữa, theo Cục Thuế, các quy định nêu trên được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại điểm b khoản 2 Điều 40 của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định trách nhiệm của tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong việc cung cấp, kết nối, chia sẻ thông tin phục vụ quản lý thuế; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung, hình thức, phương thức và thời hạn cung cấp thông tin.
Đồng thời, đã kế thừa quy định tại Điều 30 Nghị định 126/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 "Điều 30. Nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán"
Vì vậy, Cục Thuế khẳng định dự thảo nghị định không hề loại bỏ trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức tín dụng như một số thông tin phản ánh. Ngược lại, các quy định này tiếp tục được duy trì nhằm bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
"Việc quy định trách nhiệm phối hợp và cung cấp thông tin của các tổ chức tín dụng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời góp phần phòng ngừa gian lận và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật", Cục Thuế khẳng định.
Anh Minh