Lượng hóa Carbon rừng: Biến 'tài sản xanh' thành nguồn thu mới cho phát triển bền vững

Admin
(Chinhphu.vn) - Việt Nam hiện có gần 15 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ duy trì trên 42%, được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn về phát triển thị trường carbon rừng tại khu vực Đông Nam Á.
Lượng hóa Carbon rừng: Biến 'tài sản xanh' thành nguồn thu mới cho phát triển bền vững- Ảnh 1.

Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm: Các địa phương cần đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ carbon của rừng trên địa bàn

Mỗi tín chỉ carbon đều phải được đo đạc và kiểm chứng

Khi Nghị định 180/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 15/7, Việt Nam lần đầu tiên có khung pháp lý tương đối đầy đủ cho việc hình thành, quản lý và giao dịch tín chỉ carbon rừng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để biến tiềm năng carbon rừng thành nguồn thu thực tế, điều quan trọng trước mắt không phải là tìm đối tác mua bán mà là lượng hóa chính xác giá trị carbon của từng khu rừng.

Trong bối cảnh các cam kết giảm phát thải khí nhà kính và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đang được thúc đẩy mạnh mẽ, giá trị của rừng không chỉ được tính bằng gỗ hay lâm sản ngoài gỗ mà còn ở khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon.

Tuy nhiên, để chuyển khả năng hấp thụ carbon thành giá trị kinh tế, điều kiện tiên quyết là xác định chính xác lượng carbon mỗi khu rừng hấp thụ và khả năng hình thành tín chỉ đủ tiêu chuẩn giao dịch trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Tại Hội nghị phổ biến Nghị định 180/2026/NĐ-CP do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 2/7, lãnh đạo ngành lâm nghiệp cho rằng nhiều địa phương đang kỳ vọng vào nguồn thu mới từ carbon rừng, nhưng đây là lĩnh vực hoàn toàn mới với yêu cầu kỹ thuật cao.

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, trước khi nghĩ đến giao dịch tín chỉ carbon hay tìm kiếm nhà đầu tư, địa phương cần tập trung đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ carbon của rừng trên địa bàn.

Theo ông, giá trị tín chỉ carbon không được xác định bằng diện tích rừng hay trữ lượng gỗ như cách tính truyền thống, mà phụ thuộc vào khả năng chứng minh lượng khí nhà kính được hấp thụ hoặc giảm phát thải thông qua các phương pháp được quốc tế công nhận.

Khác với các sản phẩm lâm nghiệp thông thường, tín chỉ carbon chỉ được hình thành sau một quy trình chặt chẽ gồm xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon trước khi được cấp tín chỉ để giao dịch.

Lượng hóa Carbon rừng: Biến 'tài sản xanh' thành nguồn thu mới cho phát triển bền vững- Ảnh 2.

Hội nghị phổ biến Nghị định 180/2026/NĐ-CP - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Dữ liệu sẽ quyết định giá trị của rừng trong tương lai

hải dựa trên dữ liệu hoạt động, phương pháp tính toán chuẩn hóa, kết quả kiểm chứng độc lập và quy trình quản lý thống nhất nhằm tránh tính trùng hoặc giao dịch trùng tín chỉ.

Để hỗ trợ quá trình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng với các quy định về dự án carbon, phương pháp đo đạc, báo cáo phát thải, hấp thụ carbon, quy trình thẩm định và xác minh.

Đây được xem là nền tảng kỹ thuật quan trọng nhằm thống nhất phương pháp xác định và kiểm chứng tín chỉ carbon trong nước, đồng thời tạo điều kiện kết nối với các tiêu chuẩn và thị trường carbon quốc tế trong tương lai.

Theo các chuyên gia, dữ liệu sẽ quyết định giá trị của rừng trong tương lai. Các địa phương sẽ đóng vai trò quan trọng thông qua hoạt động kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng và đánh giá khả năng hấp thụ carbon.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính, theo dõi diễn biến rừng và xác định lượng hấp thụ carbon vào kế hoạch triển khai Nghị định 180.

Trong thời gian tới, kết quả điều tra và theo dõi rừng không chỉ phục vụ quản lý tài nguyên như trước đây mà còn trở thành cơ sở xác định mức tham chiếu và lượng hấp thụ carbon của rừng theo từng giai đoạn phát triển.

Theo các chuyên gia, carbon rừng cần được xem là nguồn tài chính bổ sung nhằm hỗ trợ chủ rừng và cộng đồng bảo vệ, phát triển rừng bền vững thay vì trở thành mục tiêu khai thác thương mại đơn thuần.

Theo Nghị định 180, nguồn thu từ carbon đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân sẽ ưu tiên cho hoạt động bảo vệ, phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cộng đồng, xây dựng dự án carbon, đo đạc, thẩm định và phát triển cơ sở dữ liệu quản lý. Cơ chế tái đầu tư này được kỳ vọng tạo vòng tuần hoàn tích cực, trong đó bảo vệ rừng tốt hơn sẽ tạo thêm giá trị kinh tế từ các dịch vụ hệ sinh thái mà rừng mang lại.

Đỗ Hương

Tham khảo thêm
Xây dựng thị trường Carbon: Lộ trình chiến lược và cơ hội bứt phá cho doanh nghiệpXây dựng thị trường Carbon: Lộ trình chiến lược và cơ hội bứt phá cho doanh nghiệp
Tham khảo thêm
Nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừngNguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng
Tham khảo thêm
Sớm hoàn thiện khung pháp lý thị trường carbon rừng, đẩy mạnh phân cấp cho địa phươngSớm hoàn thiện khung pháp lý thị trường carbon rừng, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương