Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi

Admin
(Chinhphu.vn) - Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc mở rộng cơ hội việc làm, giúp người dân có nghề, có thị trường và nâng cao năng lực tự tạo việc làm chính là “chìa khóa” để người dân chủ động vươn lên, thoát nghèo bền vững.
Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 1.

Vườn ươm cây giống của anh Phạm Văn Quyết, thôn Củm Hạ 1, xã Cốc San (Lào Cai) - Ảnh: CS

"Vườn ươm" việc làm

Ở thôn Củm Hạ 1, xã Cốc San, tỉnh Lào Cai, anh Phạm Văn Quyết được biết đến với vai trò Bí thư Chi bộ, đồng thời là người mạnh dạn phát triển kinh tế.

Năm 2018, bắt đầu với 500 m² vườn ươm, anh Quyết trồng và cung cấp khoảng 12 vạn cây quế giống mỗi năm. Đất sản xuất được mở rộng dần, cùng với đó là việc đưa máy móc, hệ thống tưới tự động và kỹ thuật mới vào sản xuất.

Năm 2021, anh thành lập hợp tác xã cây giống, tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ cùng tham gia. Từ 4 thành viên ban đầu, hợp tác xã sau hai năm phát triển lên 8 thành viên, diện tích sản xuất đạt 12.000 m².

Hiện mỗi năm, hợp tác xã cung ứng khoảng 50 vạn cây quế giống cho người trồng rừng trên địa bàn và các địa phương lân cận. Từ năm 2023 đến nay, doanh thu bình quân đạt trên 1,2 tỷ đồng/năm, lợi nhuận khoảng 450 triệu đồng/năm.

Hợp tác xã duy trì việc làm thường xuyên cho 6 lao động địa phương, thu nhập bình quân 6-8 triệu đồng/người/tháng; đồng thời tạo việc làm thời vụ cho từ 12-15 lao động trong các thời điểm cao điểm sản xuất.

Cốc San là xã miền núi, dân số khoảng 11.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 62%. Trong điều kiện đó, tạo việc làm ngay tại địa phương có ý nghĩa đặc biệt, giúp người dân nâng cao thu nhập và thoát nghèo bền vững.

Những "hạt nhân" kinh tế

Cũng là địa phương miền núi, xã Quan Sơn, tỉnh Lạng Sơn có địa hình đồi núi xen thung lũng, độ cao từ khoảng 300 đến 700 m. Người Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của xã là 17,29%, trong đó hộ nghèo chiếm 11,83%, hộ cận nghèo khoảng 5,46%.

Những năm qua, một bộ phận thanh niên địa phương lựa chọn đi làm tại các khu công nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang. Đây là lựa chọn phù hợp khi thị trường lao động ngoài địa phương đem lại thu nhập nhanh và ổn định.

Song tại quê nhà, phát huy lợi thế về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển chăn nuôi và lâm nghiệp, nhiều mô hình kinh tế cũng đang được hình thành.

Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 2.

Anh Vi Văn Tự, thôn Suối Cái, xã Quan Sơn (Lạng Sơn) - Ảnh: QS

Anh Vi Văn Tự, sinh năm 1996, ở thôn Suối Cái, bắt đầu chăn nuôi dê thương phẩm từ năm 2020. Mô hình đem lại thu nhập khoảng 80-100 triệu đồng/năm.

"Lúc đầu tôi chỉ mua 8 con về nuôi. Đến nay, đàn dê đã nhân lên được 50 con. Sắp tới tôi vẫn muốn mở rộng thêm quy mô để tăng thêm thu nhập", anh Tự chia sẻ.

Còn tại thôn Nà Lìa, anh Nguyễn Văn Tính, sinh năm 2003, lại chọn cách phát triển kinh tế tổng hợp.

"Tôi có khoảng 30ha rừng và chăn khoảng 8 con ngựa. Trước kia, tôi đi làm công ty để gom góp vốn về đầu tư vào trồng rừng. Hiện tại, khi nào rảnh rỗi công việc, tôi lại đi làm công ty 1-2 tháng rồi lại về làm rừng. Công việc hàng ngày là phát rừng và bón phân. Vụ vừa rồi, tôi thu được 400-500 triệu đồng từ việc bán một phần sản lượng rừng", anh Tính nói.

Những mô hình kinh tế như của anh Tự và anh Tính quy mô còn nhỏ, đang ở mức hộ gia đình. Tuy nhiên, đây là những "hạt nhân" quan trọng để hình thành các mô hình kinh tế lớn hơn nếu được tiếp sức bằng vốn, kỹ thuật, thị trường và phương thức liên kết phù hợp.

Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 3.

Anh Nông Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Bí thư Đoàn xã Quan Sơn (Lạng Sơn) - Ảnh: QS

Anh Nông Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Bí thư Đoàn xã Quan Sơn, chia sẻ: "Nguồn vốn để thanh niên tiếp cận còn nhỏ, chủ yếu từ các nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách với hạn mức vay tối đa 100 triệu đồng. Chưa có các nguồn vốn lớn hơn để thanh niên tiếp cận và phát triển những mô hình quy mô lớn. Do đó, thời gian tới, tôi rất mong cấp ủy, chính quyền địa phương có thể tạo điều kiện để thanh niên tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi với hạn mức vay lớn hơn, nhằm tiếp tục phát triển các mô hình nhỏ lẻ gia đình thành các mô hình kinh tế lớn, từ đó tạo được việc làm cho nhiều lao động tại địa phương".

Đề án xây dựng hệ sinh thái việc làm

Thực tế từ cơ sở cho thấy, hỗ trợ một hộ có sinh kế là cần thiết, nhưng để tạo chuyển biến rộng hơn, chính sách cần hướng tới những mô hình có khả năng tạo ra nhiều việc làm, hình thành chuỗi giá trị và kéo thêm lao động địa phương vào sản xuất.

Thời gian qua, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều chuyển biến nhờ các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, khoảng cách về thu nhập, khả năng tiếp cận thị trường lao động và cơ hội việc làm vẫn là những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.

Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 4.

Hiện nay, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang xây dựng dự thảo Đề án "Tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035".

Theo Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nông Thị Hà, mục tiêu của Đề án là phát triển hệ sinh thái tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phát huy vai trò chủ thể của người dân; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng địa phương; mở rộng cơ hội việc làm và sinh kế, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển.

Dự thảo Đề án được định hướng triển khai trong 2 giai đoạn 2026-2030 và 2031-2035, tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ, gồm: phát triển kinh tế địa phương để tạo việc làm bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi; quản lý, nâng cao chất lượng lao động; phát triển và kết nối các dịch vụ việc làm.

Cách tiếp cận này đặt vấn đề việc làm vào một chỉnh thể. Một người dân muốn có việc làm ổn định cần được trang bị kỹ năng phù hợp; địa phương phải có ngành nghề, mô hình sản xuất có khả năng hấp thụ lao động; sản phẩm phải có thị trường; còn người lao động phải có khả năng tiếp cận thông tin và cơ hội việc làm.

Thực tế ở Cốc San cho thấy một hợp tác xã quy mô tuy nhỏ nhưng có thể trở thành "điểm neo" việc làm. Còn ở Quan Sơn lại cho thấy tiềm năng lớn nằm ở lực lượng thanh niên và những người dám đầu tư, dám làm kinh tế trên chính mảnh đất quê hương.

Vấn đề còn lại là làm sao để những mô hình nhỏ ấy có thể lớn lên.

Ngày 12/8/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới (Kế hoạch). Một trong những nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch là tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với khơi dậy nội lực, giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Sơn Hào

Tham khảo thêm
Người lính năm xưa, điểm tựa hôm nay của bản làngNgười lính năm xưa, điểm tựa hôm nay của bản làng
Tham khảo thêm
‘Giải mã’ mắt xích trong chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số‘Giải mã’ mắt xích trong chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số
Tham khảo thêm
Tạo sinh kế từ lợi thế bản địaTạo sinh kế từ lợi thế bản địa
Tham khảo thêm
Chính sách ‘đặc thù trong đặc thù’, dành riêng cho vùng ‘lõi nghèo’Chính sách ‘đặc thù trong đặc thù’, dành riêng cho vùng ‘lõi nghèo’
Tham khảo thêm
Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sốngChính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống
Tham khảo thêm
Những người gieo ‘mùa xuân’ trên vùng đất khóNhững người gieo ‘mùa xuân’ trên vùng đất khó