
Nhà máy LNG nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành thương mại, bổ sung nguồn điện và góp phần bảo đảm ổn định hệ thống
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu rất lớn đối với bảo đảm nguồn cung năng lượng. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân; đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển đủ năng lực nhập khẩu LNG phục vụ các nguồn điện khí và nhu cầu khác, hình thành các trung tâm năng lượng LNG tập trung, hài hòa giữa các vùng miền.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2035, cả nước dự kiến có 22 dự án nhiệt điện LNG được xây dựng và đưa vào vận hành. Riêng đến năm 2030, có 15 dự án dự kiến vận hành thương mại với tổng công suất 22.524 MW. Đến nay, Nhà máy LNG nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành thương mại, bổ sung nguồn điện và góp phần bảo đảm ổn định hệ thống.
Theo các chuyên gia, để 22.524 MW điện LNG theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh có thể hiện hữu vào năm 2030, bài toán không chỉ nằm ở xây dựng nhà máy mà còn là tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về vốn, thị trường, hạ tầng và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Điện khí LNG có những giá trị cụ thể đối với hệ thống điện
PGS. TS Trần Đình Thiên, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn kinh tế - Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tái tạo tăng, nhu cầu về điện nền không biến mất nhưng cơ cấu thay đổi mạnh, điện than giảm thì điện khí LNG được xác định là giải pháp tối ưu. Đây là những thay đổi gắn với yêu cầu vừa đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, vừa thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng điện sạch.
Ông Trần Đình Thiên nhìn nhận, việc bảo đảm nguồn điện không chỉ được nhìn ở con số công suất ghi trong quy hoạch. Giá trị của 1 MW nằm ở lượng điện thực phát và quan trọng hơn là khả năng sẵn sàng phát đúng lúc, đúng nơi, đúng chức năng mà hệ thống cần. Trong cơ cấu đó, điện khí LNG có những giá trị cụ thể đối với hệ thống điện. LNG bổ sung nguồn công suất chắc chắn khi khí trong nước suy giảm; turbine khí có khả năng điều chỉnh công suất tương đối nhanh, hỗ trợ hệ thống hấp thụ nguồn điện gió và mặt trời. Đồng thời, LNG có vòng đời phát thải thấp hơn than khoảng 35%.
Theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, mục tiêu đến năm 2030 là điện thương phẩm đạt 500,4-557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu đạt 560,4-624,6 tỷ kWh; công suất cực đại đạt 89.655-99.934 MW. Tổng công suất nguồn phục vụ nhu cầu dự kiến 183.291-236.363 MW, trong đó điện LNG 22.524 MW, tương đương 9,5-12,3%. Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, những con số này cho thấy hệ thống năng lượng đứng trước hai yêu cầu đồng thời: Mở rộng nhanh quy mô cung ứng và tái cấu trúc mạnh cơ cấu nguồn điện. Trong quá trình đó, LNG được đặt trong cơ cấu nguồn như một giải pháp chiến lược đáp ứng yêu cầu của hệ thống.
5 nhóm vấn đề khi triển khai điện khí LNG
Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) cho rằng, phát triển điện khí LNG không chỉ đặt ra câu chuyện của riêng ngành điện, của riêng các dự án LNG, mà rộng hơn là câu chuyện về năng lực bảo đảm nền tảng năng lượng cho một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô ngày càng lớn và mức độ điện hóa ngày càng cao.
Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục tăng cao, yêu cầu về độ tin cậy, ổn định và linh hoạt của hệ thống điện ngày càng lớn, thì nguồn điện khí LNG được xác định là nguồn điện chuyển tiếp chiến lược trong giai đoạn tới, có vai trò quan trọng trong việc: Bảo đảm cân đối cung – cầu điện năng; Hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn; Nâng cao độ ổn định, an toàn của hệ thống điện quốc gia; Thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
Ông Hùng cho rằng, công nghệ điện khí LNG hiện nay về cơ bản đã tương đối hoàn thiện và có nhiều lựa chọn trên thị trường quốc tế. Vấn đề khó hơn nằm ở cấu trúc kinh tế của dự án. LNG là nhiên liệu nhập khẩu. Giá LNG chịu ảnh hưởng của thị trường quốc tế, chi phí vận chuyển, tỷ giá và các yếu tố địa chính trị. Trong khi đó, dự án điện khí lại là dự án có vốn đầu tư rất lớn, vòng đời dài và cần có khả năng huy động vốn dài hạn.
Từ thực tiễn triển khai, Phó Cục trưởng Cục Điện lực cho biết, có ít nhất 5 nhóm vấn đề cần được quan tâm trong phát triển nhiệt điện LNG, đó là: Cơ chế hợp đồng và huy động điện phải tạo được sự ổn định cần thiết; hạ tầng LNG cần được đồng bộ và tăng hạ tầng dùng chung cảng, kho LNG, hệ thống tái hóa và đường ống; phát triển đồng bộ với hạ tầng lưới điện; nâng cao trách nhiệm của các nhà đầu tư; phát triển LNG không đồng nghĩa với việc trì hoãn chuyển dịch năng lượng.
Để thực hiện mục tiêu 22.524 MW vào năm 2030, Cục Điện lực đề xuất rà soát toàn bộ danh mục dự án LNG, phân loại theo mức độ sẵn sàng về đầu tư, đất đai, hạ tầng, nguồn khí, thu xếp vốn và đấu nối. Những dự án có khả năng hoàn thành sớm cần được xác định rõ để tập trung tháo gỡ vướng mắc, tránh dàn trải nguồn lực.
Cùng với đó là xây dựng đồng bộ hạ tầng nhập khẩu LNG với các dự án điện, nghiên cứu hình thành các trung tâm khí - điện LNG có hạ tầng dùng chung; tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện (PPA); tăng cường phối hợp giữa Bộ Công Thương, các địa phương, EVN, Petrovietnam, doanh nghiệp khí và nhà đầu tư. Những dự án chậm tiến độ kéo dài cũng cần được xử lý, đồng thời chuẩn bị phương án thay thế hoặc bổ sung nguồn điện để bảo đảm cân đối cung - cầu hệ thống.
Mở đồng thời 2 "khóa" để thu hút vốn
PGS. TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng việc hoàn thiện cơ chế tài chính và thị trường là điều kiện quan trọng để điện khí LNG huy động vốn, vận hành hiệu quả.
Theo ông Ngô Trí Long, hai điểm nghẽn lớn trong việc phát triển điện khí LNG là vốn và thị trường. Điện khí LNG không chỉ cần được đưa vào quy hoạch mà quan trọng hơn là phải biến quy hoạch thành những dự án có thể huy động vốn và vận hành hiệu quả.
Về vốn, các dự án LNG cần lượng vốn rất lớn, thời gian thu hồi dài, trong khi các yếu tố như giá điện, sản lượng, tỉ giá và trách nhiệm khi xảy ra biến động chưa thực sự rõ ràng. Khi dòng tiền chưa đủ rõ, ngân hàng khó cho vay và nhà đầu tư khó quyết định.
Ở phía thị trường, giá LNG nhập khẩu biến động mạnh; cách thức mua LNG và tính giá điện chưa thật rõ; việc huy động nhà máy cần minh bạch; kho cảng, đường ống phải bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng. Nếu thiếu minh bạch, chi phí cao có thể chuyển sang người sử dụng điện.
Để phát triển điện khí LNG, TS. Ngô Trí Long cho rằng cần đồng thời mở 2 "khóa", gồm khóa về vốn và khóa về thị trường. Trong đó, dòng tiền phải rõ ràng, hợp đồng đủ điều kiện vay vốn; đồng thời tín hiệu giá cần minh bạch, thị trường có cạnh tranh và vận hành hiệu quả.
Điện khí LNG có 3 vai trò quan trọng gồm bổ sung nguồn điện khi nhu cầu tăng nhanh và nguồn khí trong nước giảm; hỗ trợ năng lượng tái tạo nhờ khả năng điều chỉnh công suất linh hoạt cho điện gió, điện mặt trời. Đồng thời tăng an ninh năng lượng thông qua đa dạng hóa nguồn nhiên liệu, giảm phụ thuộc vào một nguồn.
Tuy nhiên, từ quy hoạch đến một nhà máy thực sự vận hành, phát điện với giá hợp lý vẫn là khoảng cách lớn. Theo TS. Ngô Trí Long, điện khí LNG cần được nhìn nhận như một chuỗi liên hoàn, gồm kho cảng, đường ống, nhà máy điện và lưới truyền tải; chỉ một mắt xích chậm cũng có thể khiến cả chuỗi dự án chậm theo.
Anh Thơ