Sửa Luật Dầu khí: Làm rõ cơ chế xử lý rủi ro cho Petrovietnam

Admin
(Chinhphu.vn) - Góp ý đối với dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) trong các phiên thảo luận ở tổ tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế đối với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia (Petrovietnam) khi thực hiện nhiệm vụ thay mặt Nhà nước thực hiện một số chức năng trong quản lý hoạt động dầu khí.
Sửa Luật Dầu khí: Làm rõ cơ chế xử lý rủi ro cho Petrovietnam- Ảnh 1.

ĐBQH Trần Hoàng Ngân

Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, với tư cách một tập đoàn kinh tế nhà nước, bên cạnh nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, Petrovietnam còn được giao thực hiện một số chức năng thay mặt Nhà nước.

Trong khi đó, Nghị quyết số 79/NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phân định rõ chức năng sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ quản lý nhà nước và nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, dầu khí là lĩnh vực có tính chất đặc thù. Do đó, Petrovietnam được giao thay mặt Nhà nước thực hiện một số chức năng trong quản lý hoạt động dầu khí.

Vấn đề đặt ra là trong quá trình thực hiện các chức năng này, nếu phát sinh rủi ro hoặc thiệt hại thì Nhà nước sẽ xử lý, quyết toán với Petrovietnam như thế nào? Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, những nội dung này cần được quy định rõ ràng, cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các Điều 56, 57, 58, 59 và 60 của dự thảo Luật, làm rõ nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như cơ chế tài chính đối với Petrovietnam khi thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao.

"Nếu không có những quy định cụ thể, việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của Petrovietnam sẽ gặp nhiều khó khăn. Khi được luật hóa đầy đủ, Tập đoàn sẽ thuận lợi hơn trong quyết toán, quyết định đầu tư và tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh", đại biểu Trần Hoàng Ngân nhận định.

Gắn hoạt động dầu khí với quốc phòng, an ninh và bảo vệ biển đảo

Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, thời gian gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng cần được thể chế hóa trong Luật Dầu khí, trong đó có Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước cùng Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển. Những chủ trương này đặt ra nhiều yêu cầu mới cần được cụ thể hóa đầy đủ trong dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

Góp ý Điều 8 của dự thảo Luật, đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng, tiêu đề "Yêu cầu về an toàn dầu khí" cần được nghiên cứu sửa đổi hoặc bổ sung thành "Yêu cầu về an toàn dầu khí và quốc phòng, an ninh".

Theo đại biểu, vấn đề quốc phòng, an ninh trong lĩnh vực dầu khí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, do nhiều hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác được thực hiện trên biển, gắn chặt với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đối với Điều 40 về bảo đảm nghĩa vụ thu dọn công trình dầu khí, đại biểu cho biết, sau khi kết thúc khai thác, các máy móc, thiết bị, công trình và hệ thống khai thác dưới đáy biển phải được thu dọn, làm sạch, khôi phục lại trạng thái bình thường.

Để thực hiện trách nhiệm này, cần có Quỹ bảo đảm nghĩa vụ thu dọn công trình dầu khí. Dự thảo Luật đã đề cập đến nội dung này, song theo đại biểu, cần tiếp tục bổ sung các quy định chi tiết, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể để bảo đảm quỹ được quản lý và sử dụng hiệu quả.

Liên quan đến Điều 53 về phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với triển khai hoạt động dầu khí, đại biểu đánh giá đây là một trong những thế mạnh của Việt Nam trong quá trình phát triển không gian biển.

Trên tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, đại biểu Trần Hoàng Ngân đề nghị bổ sung các nội dung nhằm bảo đảm việc khai thác, phát triển các công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, bảo vệ biển đảo và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục cho doanh nghiệp

Đề cập đến yêu cầu của dự thảo Luật là vừa tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước nhưng đồng thời phải tháo gỡ các điểm nghẽn thủ tục cho doanh nghiệp, ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng cần chuyển từ quản lý bằng nhiều tầng phê duyệt sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, thời hạn, trách nhiệm và giám sát rủi ro. Quản lý chặt chẽ không đồng nghĩa với kéo dài thủ tục; thủ tục thiếu rõ ràng còn có thể làm phân tán trách nhiệm và giảm hiệu lực quản lý.

Dự thảo cần phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Công Thương, các bộ, ngành và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam; tách bạch chức năng quản lý nhà nước, đại diện chủ sở hữu và sản xuất kinh doanh. Phân cấp phải gắn với tiêu chí ra quyết định, thời hạn xử lý, công khai quy trình và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, cần số hóa, liên thông và tái sử dụng dữ liệu, tăng hậu kiểm theo mức độ rủi ro thay cho các thủ tục tiền kiểm mang tính hình thức.

Đối với vấn đề thu giữ, lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao, sử dụng chung hạ tầng, dữ liệu dầu khí và công trình năng lượng ngoài khơi, Luật cần quy định "khung cứng" về phạm vi, nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ, an toàn, bảo mật và lợi ích của Nhà nước; còn hồ sơ, trình tự, chi phí, vận hành và phối hợp liên ngành có thể giao Chính phủ quy định chi tiết. Các nghị định phải được chuẩn bị đồng thời và có hiệu lực cùng thời điểm với Luật để doanh nghiệp không phải tiếp tục chờ cơ chế thực hiện.

Sửa Luật Dầu khí: Làm rõ cơ chế xử lý rủi ro cho Petrovietnam- Ảnh 2.

ĐBQH Phan Đức Hiếu

Hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng

Theo ĐBQH Phan Đức Hiếu, dự thảo Luật lần này không điều chỉnh toàn bộ hoạt động CCS hay lĩnh vực năng lượng ngoài khơi, mà tập trung vào những hoạt động có sự gắn kết trực tiếp với ngành dầu khí, đặc biệt là việc khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng, dữ liệu và các điều kiện sẵn có của ngành.

Ông nhấn mạnh, điểm quan trọng là cần nhìn nhận Luật Dầu khí như một công cụ để mở rộng giá trị sử dụng của hệ sinh thái dầu khí hiện hữu, từ đó hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng".

Đại biểu Phan Đức Hiếu cho rằng, sau nhiều thập kỷ phát triển, ngành dầu khí đã hình thành một hệ thống hạ tầng quan trọng trên biển như các công trình khai thác, giàn khoan, đường ống, cảng chuyên dụng cùng nguồn dữ liệu địa chất, địa vật lý, khảo sát biển có giá trị lớn. Đây là những nguồn lực không chỉ phục vụ hoạt động dầu khí truyền thống mà còn đóng vai trò nền tảng cho các lĩnh vực năng lượng mới.

Đơn cử, với các mỏ dầu khí đã kết thúc vòng đời khai thác, những cấu trúc địa chất phù hợp có thể được nghiên cứu để phục vụ lưu trữ CO₂; trong khi các công trình, hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi có thể được tận dụng để giảm chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian triển khai các dự án năng lượng mới.

"Mục tiêu là sử dụng hiệu quả nhất những gì đã có, tránh đầu tư trùng lặp, đồng thời phát huy giá trị của các tài sản đã được Nhà nước và doanh nghiệp đầu tư trong nhiều năm qua", đại biểu Phan Đức Hiếu cho biết.

Về ý kiến liên quan đến tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, theo đại biểu Phan Đức Hiếu, Ban soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã trao đổi rất kỹ. Quan điểm là khi hệ thống pháp luật được hoàn thiện đồng bộ, các hoạt động như CCS hay điện gió ngoài khơi sẽ được điều chỉnh đầy đủ ở các luật có liên quan. Riêng Luật Dầu khí chỉ tập trung vào việc tận dụng tối đa các nguồn lực và hạ tầng của ngành dầu khí để phục vụ các hoạt động này.

Theo đại biểu Phan Đức Hiếu, cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước, vừa mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực ngoài khơi, góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, giảm chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia.

AT