Điều 3, Nghị định 188/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế quy định các trường hợp theo quy định tại điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 48b, Luật Bảo hiểm y tế không bị coi là trốn đóng BHYT khi có một trong các lý do sau theo công bố của cơ quan có thẩm quyền về phòng, tránh thiên tai, tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự và phòng, chống dịch bệnh, bao gồm:
1. Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tài chính của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
3. Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
4. Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự.
Như vậy, những trường hợp trên sẽ không bị coi là trốn đóng BHYT.

Ảnh minh họa.
Liên quan đến lĩnh vực BHYT, từ 15/5, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế chính thức có hiệu lực, bổ sung nhiều quy định theo hướng tăng chế tài với vi phạm chậm đóng, trốn đóng BHYT, cho mượn thẻ BHYT hoặc sử dụng sai quy định.
Theo đó, tại Điều 82 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP nêu rõ: Vi phạm về quy định trốn đóng BHYT mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng đối với hành vi không đóng BHYT của đối tượng bắt buộc tham gia BHYT.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia BHYT sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 Luật Bảo hiểm y tế, trừ trường hợp không bị coi là trốn đóng BHYT theo một trong các mức sau đây:
Phạt từ 2-4 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động; từ 4-7 triệu đồng, khi vi phạm từ 10 đến dưới 50 người lao động; từ 7-20 triệu đồng, khi vi phạm từ 50 đến dưới 100 người lao động; từ 20-30 triệu đồng, khi vi phạm từ 100 đến dưới 500 người lao động; từ 30-50 triệu đồng, khi vi phạm từ 500 đến dưới 1.000 người lao động; từ 50-70 triệu đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHYT thấp hơn tiền lương quy định tại Điều 14 của Luật Bảo hiểm y tế hoặc không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký BHYT sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHYT chậm nhất theo quy định tại khoản 8 Điều 15 của Luật Bảo hiểm y tế và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc, trừ trường hợp không bị coi là trốn đóng BHYT theo một trong các mức sau đây:
Từ 1-2 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị dưới 5 triệu đồng; từ 2-3 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 5 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng; từ 3-5 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng; từ 5-7 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 20 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng; từ 7-15 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 40 triệu đồng đến dưới 60 triệu đồng;
Từ 15-20 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 60 triệu đồng đến dưới 80 triệu đồng; từ 20-25 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 80 triệu đồng đến dưới 120 triệu đồng; từ 25-35 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 120 triệu đồng đến dưới 160 triệu đồng; từ 35-45 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 160 triệu đồng trở lên.
Nghị định này cũng quy định rõ biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc phải đóng đủ số tiền trốn đóng vào Quỹ bảo hiểm y tế; Buộc hoàn trả số tiền mà đối tượng tham gia BHYT bị thiệt hại (nếu có). Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế;
Buộc nộp khoản tiền lãi của số tiền trốn đóng theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền chậm đóng hoặc đóng thiếu, tương ứng với thời gian trốn đóng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế...
Minh Hoa (t/h theo Lao Động, Nhân Dân)