
Rừng không còn chỉ được nhìn như nguồn lợi khai thác mà là nền tảng cho phát triển bền vững, gắn liền với cả môi trường lẫn sinh kế người dân - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương
Lội ngược dòng từ nguy cơ "trắng rừng"
Hàng chục năm về trước, sau chiến tranh kéo dài cùng quá trình khai thác quá mức, Việt Nam đã phải đối mặt với nguy cơ "trắng rừng" ở quy mô báo động. Tại nhiều vùng trung du và miền núi, đất trống đồi trọc và đá sỏi loang lổ vết cháy là tất cả những gì còn lại trong tầm mắt. Hệ quả là xói mòn nghiêm trọng xảy ra thường xuyên, lũ quét tàn phá các vùng bản làng, các dòng sông đục ngầu phù sa, khiến an ninh môi trường bị đe dọa trực tiếp và sinh kế của người dân miền núi rơi vào cảnh kiệt quệ. Vào năm 1990, diện tích rừng cả nước chạm đáy lịch sử khi chỉ còn vỏn vẹn khoảng 9,1 triệu ha.
Tuy nhiên, bước ngoặt mang tính lịch sử từ chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng, kết hợp cùng các chương trình lâm nghiệp lớn như Chương trình 327 và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (giai đoạn 1998-2010). Lần đầu tiên, người dân miền núi cầm trên tay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, giúp họ thay đổi hoàn toàn nhận thức từ coi rừng là "của chung vô chủ" thành một tài sản gắn liền với cơm ăn, áo mặc và sự hưng thịnh của gia đình.
Nhờ sự đồng lòng đó, sau hơn ba thập kỷ, diện tích rừng cả nước đã phục hồi lên trên 14,7 triệu ha, đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt mức trên 42%, quay về mốc của thập niên 1940 dù dân số đã tăng gấp nhiều lần và đất nông nghiệp mở rộng. Nỗ lực này đã được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) ghi nhận rộng rãi, đánh giá Việt Nam là một điển hình tiêu biểu nhất trên bản đồ toàn cầu về phục hồi tài nguyên rừng bền vững.
Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Trần Quang Bảo khẳng định: "Điều đáng quý là rừng không còn chỉ được nhìn như nguồn lợi khai thác. Nó trở thành nền tảng cho phát triển bền vững, gắn liền với cả môi trường lẫn sinh kế. Nếu chỉ coi rừng là cây xanh, chúng ta mới thấy một phần giá trị. Khi coi rừng là tài sản, giá trị ấy được nhân lên cả về kinh tế lẫn môi trường".
Sự thành công này có dấu ấn không thể phai mờ của người dân, khi có đến khoảng 2,6 triệu hộ gia đình đang trực tiếp quản lý, chăm sóc rừng và nắm giữ hơn 27% diện tích rừng toàn quốc. Từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, người dân từ bỏ tập quán canh tác du canh, đốt nương làm rẫy để cùng nhau giữ màu xanh của đại ngàn.

Song hành cùng việc khôi phục "lá phổi xanh" là sự bứt phá đầy ấn tượng của ngành chế biến và xuất khẩu lâm sản Việt Nam - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương
Cơ chế dịch vụ môi trường rừng: Đòn bẩy tài chính gỡ nút thắt sinh kế
Một trong những chính sách thành công nhất, mang tính đột phá lớn nhất của ngành lâm nghiệp Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua chính là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), bắt đầu triển khai từ năm 2011. Từ chỗ giữ rừng là một gánh nặng của cộng đồng miền núi do lợi ích kinh tế không đáng kể, sự ra đời của chính sách này đã thay đổi hoàn toàn cục diện lâm nghiệp. Người dân trực tiếp nhận được nguồn thu ổn định từ công sức tuần tra, bảo vệ rừng, trong khi các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch và du lịch có trách nhiệm trả tiền cho nguồn nước, cảnh quan và giá trị sinh thái mà họ sử dụng để kinh doanh.
Sau 15 năm thực hiện trên phạm vi cả nước, chính sách này đã huy động lũy kế hơn 25.000 tỷ đồng nguồn thu xã hội ngoài ngân sách. Cơ chế này không chỉ biến Việt Nam thành quốc gia tiên phong tại Đông Nam Á về chi trả dịch vụ sinh thái rừng mà còn giúp giảm tới gần 80% áp lực ngân sách nhà nước cấp hằng năm cho hoạt động khoán bảo vệ rừng tại những tỉnh trọng điểm.
Nhận định về tầm quan trọng của cơ chế kinh tế này, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm khẳng định: "Việc chi trả đã chứng minh hiệu quả, nhưng để duy trì sức sống lâu dài, chúng ta phải mở rộng biên độ nguồn thu, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và công bằng, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp".
Song hành cùng việc khôi phục "lá phổi xanh" là sự bứt phá đầy ấn tượng của ngành chế biến và xuất khẩu lâm sản Việt Nam. Quay ngược thời gian về cuối thập niên 1990, giá trị xuất khẩu gỗ của nước ta chỉ ở mức vài trăm triệu USD, đến năm 2000 mới đạt vỏn vẹn 219 triệu USD, trong đó chủ yếu là gỗ tròn và dăm gỗ thô có giá trị kinh tế thấp.
Thế nhưng, chỉ sau hai thập kỷ chuyển đổi dứt khoát sang chế biến sâu và tinh chế, đến năm 2010 kim ngạch đã vượt 3,4 tỷ USD, năm 2020 đạt 11 tỷ USD và đến năm 2025, xuất khẩu gỗ Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục hơn 15 tỷ USD. Kỳ tích này đưa Việt Nam vững vàng đứng vào nhóm 5 quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ và Canada.
Sự bứt phá ngoạn mục này ghi nhận bước chuyển mình lớn về cấu trúc sản phẩm. Tỷ trọng các mặt hàng tinh chế sâu, đồ gỗ nội thất cao cấp thân thiện với môi trường hiện chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nền tảng của chuỗi giá trị này dựa vào hơn 4,7 triệu ha rừng trồng trong nước, đáp ứng tới 70% nhu cầu nguyên liệu cho ngành chế biến. Việc chuyển dịch mạnh mẽ từ rừng chu kỳ ngắn (5-7 năm) sang trồng rừng gỗ lớn (10-15 năm) không chỉ nhân đôi giá trị trên mỗi ha rừng trồng mà còn tạo ra vùng nguyên liệu minh bạch nguồn gốc.
Mở rộng các dịch vụ sinh thái và thị trường tín chỉ carbonKhông dừng lại ở những thành tựu truyền thống, ngành lâm nghiệp Việt Nam đang tích cực mở rộng biên độ sang các dịch vụ sinh sinh thái mới giàu tiềm năng, đặc biệt là thị trường tín chỉ carbon rừng. Việc triển khai thí điểm Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) chính là bước đi mang tính lịch sử của tiến trình REDD+ tại Việt Nam nhằm giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng.
PGS.TS Phí Hồng Hải, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nhận định: "Người dân chỉ giữ rừng khi lợi ích được đảm bảo. Chính sách đã chứng minh được điều này, vì thế cần tiếp tục được mở rộng sang các dịch vụ mới như hấp thụ và lưu giữ carbon, giá trị cảnh quan, hay khai thác tri thức bản địa"
Để khai mở tối đa nguồn tài nguyên sinh thái khổng lồ này thành giá trị kinh tế trực tiếp, công tác hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ đang được đẩy mạnh. Ông Lê Văn Thanh, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam cho biết, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của đơn vị trong giai đoạn tới là tập trung tham mưu, hoàn thiện khung hành lang pháp lý vững chắc nhằm thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của thị trường tín chỉ carbon rừng. Đây sẽ là cơ sở tài chính đột phá để hỗ trợ Việt Nam tiến sâu vào xu thế phát thải thấp toàn cầu, đóng góp thiết thực cho mục tiêu quốc gia cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050.
Đỗ Hương