Lãnh đạo FPT đề xuất lộ trình đưa AI vào “lõi” ngành Tài chính

Từ nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số đã tích lũy, Lãnh đạo FPT đề xuất một lộ trình 3 giai đoạn cho ngành Tài chính để đưa AI vào nghiệp vụ lõi, mở rộng trên toàn ngành và vận hành có kiểm soát vào năm 2030.

AI khu vực công đang được ứng dụng nhanh nhưng không đồng đều

Ngày 24/9, tại Hội thảo - Triển lãm về tài chính số trong quản lý Ngân sách Nhà nước năm 2026 - Vietnam Digital Finance 2026 (VDF-2026), ông Nguyễn Hoàng Minh - Tổng Giám đốc FPT IS, Tập đoàn FPT cho rằng ngành Tài chính đang có lợi thế lớn để bước sang giai đoạn ứng dụng AI, bởi từ trước ngành đã đi đầu về chuyển đổi số, đồng thời sở hữu lượng dữ liệu lớn được tích lũy qua nhiều năm.

Ông Minh nêu quan điểm nếu những công nghệ như điện toán đám mây hay dữ liệu lớn trước đây chủ yếu góp phần tăng năng suất và cung cấp công cụ làm việc hiệu quả hơn, AI đang tạo ra một cách tiếp cận khác.

“AI sẽ là một nguồn lực, một tác nhân lao động mới đồng hành với con người cùng sản xuất”, ông Minh nhấn mạnh.

Lãnh đạo FPT đề xuất lộ trình đưa AI vào “lõi” ngành Tài chính- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Tổng Giám đốc FPT IS, Tập đoàn FPT (Ảnh: BTC).

Trong phần trình bày tại VDF-2026, ông Minh dẫn lại định hướng quốc gia về AI đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có mục tiêu 60% quyết định chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI, 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI và 100% cán bộ, công chức sử dụng AI công vụ hàng tuần.

Đặc biệt, ông Minh cho rằng từ khóa “hàng tuần” có ý nghĩa quan trọng bởi nếu được triển khai quyết liệt, tần suất sử dụng AI của đội ngũ công chức, viên chức có thể tiến tới hàng ngày.

Đối với Bộ Tài chính, đại diện FPT cho rằng nguyên lý “AI-first” cần được thể chế hóa trong quá trình xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, tức AI được tính đến ngay từ khâu thiết kế thay vì chỉ bổ sung vào những hệ thống đã hoàn thiện.

Một phần đáng chú ý mà ông Minh đề cập là việc dẫn khung đánh giá của OECD đối với ứng dụng AI trong hoạt động chính phủ. Theo ông, OECD chia các yếu tố cần quan tâm thành 3 nhóm lớn.

Nhóm thứ nhất là các điều kiện thúc đẩy, bao gồm pháp lý, dữ liệu, hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và đào tạo. Nhóm thứ hai là các rào cản, cơ chế phòng vệ và yêu cầu kiểm soát rủi ro. Nhóm thứ ba là cơ chế hợp tác, bởi AI không phải là hệ thống mà cơ quan nhà nước có thể phát triển hoàn toàn độc lập mà cần sự tham gia của giới học thuật, doanh nghiệp và đối tác liên quan.

VDF 2026: Dữ liệu phải “sống”, AI phải thực sự tạo ra giá trịKhi AI không còn là câu hỏi "làm được gì" mà là "tạo ra giá trị gì"

Nhìn nhận từ báo cáo của OECD, ông Minh cho biết AI trong khu vực công đang được ứng dụng nhanh nhưng không đồng đều. Gần như toàn bộ các quốc gia trong nhóm được đánh giá đã đưa AI vào hai lĩnh vực là dịch vụ công và quy trình nội bộ. Trong khi đó, việc đưa AI vào xây dựng chính sách và hoạt động giám sát vẫn chưa được thúc đẩy mạnh.

Một vấn đề khác là khoảng cách giữa việc có khung quản trị AI và khả năng thực thi trên thực tế. Theo số liệu ông Minh dẫn từ OECD, 83% các nước đã có ít nhất 1 cơ quan chịu trách nhiệm quản trị AI khu vực công, nhưng chỉ khoảng 36% thực sự có hạ tầng và giải pháp để xử lý vấn đề này một cách triệt để.

Ông cho rằng đây là khác biệt đáng lưu ý giữa việc ban hành một bộ nguyên tắc và việc biến các nguyên tắc đó thành năng lực vận hành thực tế.

Báo cáo OECD mà ông dẫn còn cho thấy một loạt điểm nghẽn khác như các chương trình đào tạo AI cho công chức, viên chức chưa được phổ biến đủ rộng, việc cấp vốn cho AI được thúc đẩy mạnh nhưng năng lực mua sắm và triển khai dự án còn hạn chế.

Dẫu vậy, từ kinh nghiệm của các quốc gia dẫn đầu, lãnh đạo FPT cho rằng có 4 yếu tố đáng để học hỏi.

Thứ nhất là thể chế, thiết chế phải đi trước công cụ, trong đó cần một tổ chức duy nhất, độc lập để giám sát và quản lý rủi ro khi triển khai AI. Thứ hai, thuật toán phải minh bạch và có khả năng giải thích, để khi AI đưa ra quyết định, gợi ý hay báo cáo, có thể truy xuất được lý do dẫn đến kết quả đó.

Thứ ba, các quốc gia đều có hạ tầng AI dùng chung và có yếu tố chủ quyền nhằm kiểm soát hạ tầng ở mức tối đa có thể. Cuối cùng là hiệu quả của các chương trình AI phải được lượng hóa bằng những kết quả cụ thể, như cắt giảm bao nhiêu thời gian, bao nhiêu thủ tục và tạo ra hiệu quả gì cho người dân, doanh nghiệp.

 3 giai đoạn để AI đi vào nghiệp vụ lõi 

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Hoàng Minh cũng đưa ra đánh giá sơ bộ về mức độ trưởng thành AI của ngành Tài chính theo khung UNESCO với 6 trụ cột gồm chiến lược và giá trị, vận hành AI và hệ sinh thái, dữ liệu, con người và văn hóa, công nghệ và hạ tầng, quản trị AI, đạo đức và rủi ro.

Theo đánh giá, ngành Tài chính trong nước đang có những điểm mạnh về chiến lược, vận hành thử nghiệm và dữ liệu. Đây là những lợi thế đến từ hệ thống văn bản điều hành, các chương trình triển khai AI tập trung từ năm 2026 và việc thừa hưởng các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Ngược lại, phần quản trị, đạo đức và rủi ro vẫn là điểm đặc biệt cần hoàn thiện khi ngành đang thiếu một khung quản trị AI tổng thể ở cấp ngành, quy chế sử dụng AI cho cán bộ, hồ sơ phân loại rủi ro hay báo cáo đánh giá tác động theo Nghị định 142/2026/NĐ-CP.

Lãnh đạo FPT đề xuất lộ trình đưa AI vào “lõi” ngành Tài chính- Ảnh 2.

Ông Nguyễn Hoàng Minh nhấn mạnh lộ trình đề xuất đến năm 2030 là vận hành AI có kiểm soát trên quy mô toàn ngành Tài chính (Ảnh: Việt Anh).

Từ đánh giá này, FPT đề xuất lộ trình 3 giai đoạn đến năm 2030 cho Bộ Tài chính. Theo đó, trong năm 2026-2027, ngành Tài chính cần nhanh chóng hoàn thiện khung quản trị AI cụ thể và bước đầu đưa AI vào các nghiệp vụ lõi.

Giai đoạn 2028-2029 là thời điểm AI được kỳ vọng trở nên phổ biến trong toàn Bộ Tài chính. Khi đó, AI có thể hiện diện trong các ứng dụng về thuế, hải quan, kho bạc, đấu thầu quốc gia và cơ sở dữ liệu công, để cán bộ, công chức làm việc cùng AI thường xuyên hơn.

Đến năm 2030, mục tiêu là vận hành AI có kiểm soát trên quy mô toàn ngành, hướng tới mô hình “AI-first”. Ông Minh lưu ý yếu tố “có kiểm soát” bởi ngay cả các quốc gia đi trước cũng đang trong quá trình hoàn thiện các công cụ quản trị AI.

Bên cạnh lộ trình trên, một trong những rủi ro được ông Minh đề cập là tình trạng dữ liệu có thể bị cố ý can thiệp để làm thay đổi kết quả của AI. Ông dẫn khái niệm “đầu độc dữ liệu”, đồng thời nhận định chỉ một lượng dữ liệu tương đối nhỏ trong tập dữ liệu lớn cũng có thể tác động đến kết quả của hệ thống AI.

Trao đổi với bên lề sự kiện với Người Đưa Tin, ông Minh khẳng định FPT sẽ cam kết đồng hành với ngành Tài chính để nghiên cứu và triển khai nền tảng AI chủ quyền.

Theo ông, đơn vị sẽ tập trung vào 4 hướng đồng hành chính, bao gồm nghiên cứu, triển khai nền tảng AI chủ quyền, thứ hai là hỗ trợ xây dựng khung quản trị và cơ chế pháp lý nhằm giảm thiểu rủi ro khi triển khai AI diện rộng. Thứ ba là hỗ trợ đưa AI nhanh chóng vào các hoạt động thường ngày của công chức, viên chức ngành tài chính.

“Và cuối cùng, chúng tôi rất mong muốn được mở rộng mô hình hợp tác 3 nhà: FPT, Bộ Tài chính cùng với các cơ sở nghiên cứu đưa ra những cái mô hình AI chủ quyền riêng cho Bộ Tài chính, riêng cho Việt Nam”, ông Minh chia sẻ.