
Bên cạnh vùng nguyên liệu, chế biến sâu là hướng quan trọng để nâng cao giá trị ca cao Việt Nam
Lấy chất lượng làm nền tảng cạnh tranh
Ca cao hương vị hảo hạng (Fine Flavor Cocoa - FFC) là phân khúc có giá trị gia tăng cao nhờ những đặc tính hương vị riêng biệt. Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), Việt Nam thuộc nhóm quốc gia được Tổ chức Ca cao Quốc tế (ICCO) ghi nhận có khả năng sản xuất 100% ca cao hương vị hảo hạng. Đây là lợi thế để phát triển các sản phẩm chocolate cao cấp, đồng thời tạo khác biệt cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ông Đỗ Xuân Hiền, Chánh Văn phòng VICOFA, nhận định: "Việc được tổ chức quốc tế công nhận thuộc phân khúc ca cao hương vị hảo hạng đang giúp hạt ca cao Việt Nam có giá bán cao hơn từ 20 đến 30% so với giá sàn thế giới".
Theo số liệu VICOFA, giá hạt ca cao khô lên men trong nước vào cuối tháng 9/2026 đạt khoảng 140.000-145.000 đồng/kg. Một số lô hàng đạt tiêu chuẩn cao cấp hoặc có chứng nhận hữu cơ được cộng thêm giá. Tuy nhiên, giá cả vẫn chịu tác động từ diễn biến cung cầu toàn cầu. Khi nguồn cung tại các quốc gia sản xuất lớn phục hồi, việc cạnh tranh bằng sản lượng thô sẽ tạo nhiều sức ép đối với những nước có quy mô sản xuất nhỏ như Việt Nam.
Vì vậy, hướng đi phù hợp là duy trì chất lượng hương vị, kiểm soát đồng đều các công đoạn sản xuất và chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm chế biến có giá trị cao hơn. VICOFA đề xuất chuẩn hóa quy trình thu hoạch, lên men, phơi sấy tại nông hộ và hợp tác xã; đồng thời khuyến khích phát triển chocolate theo mô hình "từ hạt đến thành phẩm" (bean-to-bar), gắn với thương hiệu và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Sản lượng ca cao Việt Nam hiện vào khoảng 6.000 tấn/năm, với các vùng trồng tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, quy mô nông hộ nhỏ và kỹ thuật canh tác, thu hoạch, sơ chế chưa đồng đều. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu ngành hàng muốn duy trì chất lượng ổn định và đáp ứng yêu cầu của thị trường cao cấp.
Ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, nhấn mạnh: "Khuyến nông không chỉ đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người sản xuất mà còn góp phần thay đổi nhận thức, tập quán canh tác, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hạt ca cao".
Ông Đang cũng cho rằng: "Nếu giống tốt là điểm khởi đầu, kỹ thuật là nền tảng thì liên kết chuỗi là điều kiện để vùng nguyên liệu ca cao phát triển lâu dài".
Thực tiễn tại Đắk Lắk cho thấy, mô hình trồng xen ca cao với điều và cây ăn trái có thể giúp tận dụng đất, đa dạng hóa nguồn thu và giảm một phần chi phí sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào điều kiện sinh thái, giống cây, mật độ trồng và kỹ thuật chăm sóc; do đó, việc nhân rộng cần dựa trên đánh giá thực tế từng địa bàn.
Từ kinh nghiệm chuyên môn, ông Phạm Hồng Đức Phước, nguyên cán bộ Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM lưu ý: "Nếu không được chuyển giao kỹ thuật kỹ lưỡng mà vẫn dùng kiến thức của những cây trồng khác để áp dụng cho ca cao thì khả năng thành công rất thấp".
Phát triển vùng nguyên liệu không thể chỉ dựa vào việc mở rộng diện tích mà cần đồng thời bảo đảm chất lượng cây giống, hướng dẫn kỹ thuật phù hợp, quản lý sâu bệnh, thu hoạch đúng độ chín và tổ chức lên men theo quy trình.
Đặc biệt, liên kết bao tiêu cần được xây dựng trên cơ sở hợp đồng rõ ràng, tiêu chuẩn thu mua minh bạch và cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý. Khi đầu ra ổn định, người dân có thêm động lực đầu tư chăm sóc, còn doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn cung và chất lượng nguyên liệu.
Đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển chuỗi giá trị xanhBên cạnh vùng nguyên liệu, chế biến sâu là hướng quan trọng để nâng cao giá trị ca cao Việt Nam. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hạt thô, doanh nghiệp có thể phát triển bột ca cao, bơ ca cao và chocolate thành phẩm, đồng thời xây dựng thương hiệu gắn với vùng trồng và đặc trưng hương vị.
Bà Đoàn Thị Kim Xuyến, Giám đốc Công ty TNHH Cacao Land, cho biết doanh nghiệp định hướng xây dựng vườn giống đầu dòng, bảo tồn nguồn gen, phát triển giống chất lượng cao và tăng cường thu mua trái ca cao tươi để kiểm soát quy trình sơ chế. Theo bà, việc tận dụng vỏ trái, cơm nhầy và các phụ phẩm phù hợp cũng mở ra cơ hội phát triển sản phẩm mới, giảm chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Để hiện thực hóa định hướng này, đầu tư nhà máy và hạ tầng logistics cần gắn với năng lực cung ứng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và phương án vận hành khả thi. Các mô hình thu mua trái tươi, lên men tập trung cần được đánh giá về chi phí, tổ chức vận chuyển và hiệu quả kiểm soát chất lượng, bảo đảm lợi ích của cả doanh nghiệp và người trồng.
Đánh giá về quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, ông Nguyễn Văn Kiên, Phó Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công xã Ea Knốp (tỉnh Đắk Lắk) nhận định: "Sự tham gia của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ giống, kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm là điều kiện rất tốt để người dân đầu tư. Hiện xã Ea Knốp có khoảng 200 ha ca cao với sản lượng trên 3.000 tấn quả tươi/năm. Năm 2026, diện tích tăng thêm trên 50 ha và địa phương phấn đấu đạt từ 700 - 1.000 ha vào năm 2030".
Về chính sách, Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị; văn bản có hiệu lực từ ngày 1/11/2026. Đây là cơ sở để các doanh nghiệp nghiên cứu, chuẩn hóa hồ sơ và nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Để duy trì lợi thế "ca cao hương vị hảo hạng", ngành hàng cần triển khai đồng bộ các giải pháp: chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và chất lượng sau thu hoạch; phát triển vùng trồng phù hợp; củng cố liên kết bao tiêu; tăng đầu tư chế biến sâu; nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc và quản trị môi trường, xã hội.
Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp và người sản xuất sẽ quyết định khả năng chuyển lợi thế hương vị thành giá trị kinh tế bền vững. Khi chất lượng được bảo đảm, vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản và sản phẩm có thương hiệu, ca cao Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh, cải thiện thu nhập cho nông dân và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Đỗ Hương