Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản quý I đạt thặng dư 4,4 tỷ USD

Admin
(Chinhphu.vn)- Quý I/2025 đã chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng của ngành nông, lâm, thủy sản (NLTS) Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 15,72 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2024. Đây là kết quả đáng khích lệ, phản ánh nỗ lực của ngành trong việc mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và tận dụng các cơ hội từ hội nhập quốc tế.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản quý I đạt thặng dư 4,4 tỷ USD
- Ảnh 1.

Xuát khẩu cà phê trong quý I/2025 giảm 12,9% về khối lượng nhưng tăng đến 49,5% về giá trị - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Theo số liệu ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu NLTS trong tháng 3/2025 đạt 6,14 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm lên 15,72 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2024, giá trị xuất khẩu tăng 13,1%, cho thấy sự phục hồi và tăng trưởng ổn định của ngành. Trong đó, các nhóm hàng chính ghi nhận mức tăng trưởng như sau: nông sản đạt 8,53 tỷ USD (tăng 12,2%), chăn nuôi đạt 131,3 triệu USD (tăng 18,5%), thủy sản đạt 2,29 tỷ USD (tăng 18,1%), lâm sản đạt 4,21 tỷ USD (tăng 11,2%), đầu vào sản xuất đạt 549,5 triệu USD (tăng 19,6%), và muối đạt 2,3 triệu USD (tăng 2,4 lần).

Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm 42% thị phần, theo sau là châu Mỹ (22,5%) và châu Âu (16,6%). So với cùng kỳ năm 2024, giá trị xuất khẩu sang châu Á tăng 2%, châu Mỹ tăng 15,7%, châu Âu tăng mạnh 37,8%, châu Phi tăng 2,1 lần, và châu Đại Dương tăng nhẹ 0,8%. Trong số các thị trường cụ thể, Hoa Kỳ dẫn đầu với thị phần 20,2%, đạt giá trị xuất khẩu tăng 13,5%. Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt chiếm 17,3% và 7,7% thị phần, với mức tăng trưởng tương ứng là 3,6% và 26%.

Xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực: Tăng giá trị, giảm khối lượng

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có nhiều ngành hàng mang về giá trị thương mại tích cực hơn rất nhiều dù giảm khối lượng xuất khẩu. Điều này cho thấy giá trị các sản phẩm đã được nâng tầm chất lượng và đáp ứng được nhu cầu của thị trường quốc tế.

Quý I/2025, xuất khẩu cà phê đạt 509,5 nghìn tấn, giảm 12,9% về khối lượng nhưng tăng mạnh 49,5% về giá trị, đạt 2,88 tỷ USD. Giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt 5.656 USD/tấn, tăng 71,7% so với cùng kỳ năm 2024, nhờ nhu cầu tiêu thụ cà phê chất lượng cao tăng mạnh. Đức, Italia và Nhật Bản là 3 thị trường lớn nhất, với giá trị xuất khẩu tăng lần lượt 79,3%, 31,9% và 56,1%. Thị trường Ba Lan ghi nhận mức tăng mạnh nhất (3,1 lần), trong khi Indonesia giảm 37,5%.

Xuất khẩu cao su đạt 396,1 nghìn tấn, giảm 4,4% về khối lượng nhưng tăng 26,1% về giá trị, đạt 765,8 triệu USD. Giá cao su bình quân đạt 1.933,3 USD/tấn, tăng 31,9%. Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 73,7% thị phần, với giá trị xuất khẩu tăng 21,9%. Thị trường Indonesia tăng mạnh 3,1 lần, trong khi Ấn Độ giảm 27,5%. Malaysia ghi nhận mức tăng cao nhất (8,3 lần), còn Đức giảm mạnh nhất (29,9%).

Xuất khẩu chè đạt 27,3 nghìn tấn, tăng 3% về khối lượng và 2,7% về giá trị, đạt 44,4 triệu USD. Giá chè bình quân đạt 1.622,4 USD/tấn, giảm nhẹ 0,2%. Pakistan, Đài Loan và Nga là 3 thị trường lớn nhất, với giá trị xuất khẩu tại Nga tăng 33,5%, trong khi Pakistan và Đài Loan giảm lần lượt 11,8% và 5,7%. Philippines tăng mạnh nhất (4,1 lần), còn Ba Lan giảm mạnh nhất (67,6%).

Xuất khẩu hạt điều đạt 121,4 nghìn tấn, giảm 19,3% về khối lượng nhưng tăng 4,3% về giá trị, đạt 841,1 triệu USD. Giá bình quân đạt 6.929,2 USD/tấn, tăng 29,1%. Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc là 3 thị trường lớn nhất, với Hà Lan tăng 43,5%, trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc giảm lần lượt 14,5% và 50%. Pháp tăng mạnh nhất (46,1%).

Xuất khẩu hạt tiêu đạt 47,3 nghìn tấn, giảm 16,7% về khối lượng nhưng tăng 37,3% về giá trị, đạt 323,6 triệu USD. Giá bình quân đạt 6.845,4 USD/tấn, tăng 64,9%. Hoa Kỳ, Đức và Ấn Độ là 3 thị trường lớn nhất, với Đức tăng mạnh nhất (2,4 lần).

Giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,29 tỷ USD, tăng 18,1%. Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường lớn nhất, với Trung Quốc tăng mạnh nhất (75,9%). Đài Loan giảm 2,7%.

Giá trị xuất khẩu gỗ đạt 3,95 tỷ USD, tăng 11,6%. Hoa Kỳ chiếm 53,1% thị phần, với giá trị tăng 9,5%. Ấn Độ tăng mạnh nhất (95,9%), trong khi Hà Lan giảm 45,1%.

Cán cân thương mại ngành NLTS trong quý I/2025 đạt thặng dư 4,4 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2024. Nhóm lâm sản thặng dư 3,54 tỷ USD (tăng 9,1%), thủy sản thặng dư 1,51 tỷ USD (tăng 14,1%), và nông sản thặng dư 1,48 tỷ USD (tăng 16,9%). Trong khi đó, nhóm đầu vào sản xuất thâm hụt 1,21 tỷ USD, sản phẩm chăn nuôi thâm hụt 905,7 triệu USD, và muối thâm hụt 4,6 triệu USD. Các mặt hàng có thặng dư cao nhất bao gồm gỗ (3,29 tỷ USD), cà phê (2,79 tỷ USD), và tôm (792,6 triệu USD).

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhìn nhận, những thay đổi trong chính sách thuế và các yêu cầu của các thị trường quốc tế sẽ tác động đến thị trường xuất khẩu NLTS tới đây. Đặc biệt là thị trường Mỹ đang áp dụng các biện pháp thuế quan mới đối với nhiều mặt hàng, bao gồm các sản phẩm nông sản.

Tuy nhiên Thứ trưởng Tiến cũng nhấn mạnh, để đối phó với những thay đổi này, Việt Nam đã có những bước chuẩn bị kỹ lưỡng, mềm dẻo, trong đó có việc chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó và hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan. Đồng thời, các cơ quan chuyên môn cũng đã làm việc với các đối tác quốc tế để giảm thiểu tác động tiêu cực và tìm ra các giải pháp hiệu quả nhất cho ngành nông sản Việt Nam.

Đỗ Hương

Tham khảo thêm
Bộ Nông Nghiệp Và Môi Trường triển khai kế hoạch đột phá khoa học công nghệBộ Nông Nghiệp Và Môi Trường triển khai kế hoạch đột phá khoa học công nghệ
Tham khảo thêm
Khoa học công nghệ và chuyển đổi số giúp ngành Nông nghiệp phát triển vượt bậcKhoa học công nghệ và chuyển đổi số giúp ngành Nông nghiệp phát triển vượt bậc
Tham khảo thêm
Phát triển nông nghiệp: Cần cách làm mới để có kết quả mớiPhát triển nông nghiệp: Cần cách làm mới để có kết quả mới