Bài 2: Trụ cột của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia

Admin
(Chinhphu.vn) - Nếu công nghiệp hàng hải là nền tảng vật chất của kinh tế biển thì ngành công nghiệp đóng tàu chính là hạt nhân của công nghiệp hàng hải.
Bài 2: Trụ cột của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia- Ảnh 1.

Đóng mới tàu biển tại Công ty Đóng tàu Phà Rừng, Hải Phòng - Ảnh: Báo Thanh niên

Đóng tàu - hạt nhân của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải

Làm rõ hơn vai trò của công nghiệp hàng hải trong mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, ông Đỗ Thành Hưng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học - Kỹ thuật công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VISIA), cho rằng vai trò của ngành đóng tàu không dừng lại ở việc chế tạo một con tàu, mà còn có khả năng dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp hàng hải.

Theo ông Hưng, một con tàu hiện đại là sự hội tụ của hàng chục ngành công nghiệp như luyện kim, cơ khí chế tạo, động cơ, điện, điện tử, tự động hóa, vật liệu mới, phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số. Vì vậy, các quốc gia hàng hải như Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy đều coi đóng tàu là ngành công nghiệp chiến lược, đồng thời là một trong những thước đo năng lực công nghiệp quốc gia.

Thực tế, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng đáng kể cho ngành đóng tàu sau nhiều năm phát triển. Hệ thống các nhà máy đóng mới, sửa chữa tàu đã hình thành từ Bắc vào Nam; công nghệ đóng nhiều chủng loại tàu theo tiêu chuẩn quốc tế từng bước được làm chủ; một số sản phẩm đã được xuất khẩu sang những thị trường có yêu cầu kỹ thuật cao. Các doanh nghiệp trong nước không chỉ đóng tàu vận tải mà còn tham gia chế tạo tàu dịch vụ dầu khí, tàu chuyên dụng, công trình nổi và nhiều kết cấu thép ngoài khơi.

Đặc biệt, một trong những thành tựu quan trọng của ngành là hình thành đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và công nhân kỹ thuật có khả năng tiếp thu công nghệ, giải quyết các bài toán kỹ thuật phức tạp, từng bước làm chủ các công nghệ gia công, hàn, lắp ráp hiện đại.

Trong khi đó, quá trình chuyển đổi xanh của ngành hàng hải toàn cầu, yêu cầu thay thế đội tàu để đáp ứng các quy định giảm phát thải của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), cùng sự phát triển nhanh của điện gió ngoài khơi và kinh tế biển đang mở ra nhu cầu lớn đối với tàu và các công trình nổi. Đây là cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đóng tàu thế giới.

Tiềm năng chưa thành sức mạnh

Tuy đã có nền tảng về cơ sở công nghiệp, kinh nghiệm hội nhập quốc tế và nguồn nhân lực, ông Đỗ Thành Hưng cho rằng ngành đóng tàu Việt Nam vẫn chưa chuyển hóa được tiềm năng thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Điểm nghẽn trước hết nằm ở tư duy phát triển: ngành chưa được đặt trong một hệ sinh thái công nghiệp hàng hải thống nhất mà nhiều năm qua chủ yếu phát triển theo từng doanh nghiệp hoặc dự án riêng lẻ.

Trong khi đó, tại các quốc gia hàng đầu, đóng tàu được kết nối chặt chẽ với vận tải biển, cảng biển, logistics, công nghiệp hỗ trợ, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức tài chính và doanh nghiệp khai thác. Chính sự liên kết này tạo nên năng lực cạnh tranh của toàn ngành, thay vì chỉ của từng doanh nghiệp.

Một điểm nghẽn lớn khác là công nghiệp phụ trợ còn yếu. Nhiều loại thép đóng tàu chuyên dụng, động cơ, máy phát điện, hệ trục, chân vịt, thiết bị boong, thiết bị điện - điện tử hàng hải, hệ thống điều khiển, van, bơm và nhiều chủng loại thiết bị khác vẫn phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài. Điều này làm giảm tỷ lệ nội địa hóa, tăng giá thành, kéo dài thời gian sản xuất và khiến doanh nghiệp dễ bị động trước biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bên cạnh đó, Việt Nam chưa làm chủ nhiều công nghệ lõi có giá trị gia tăng cao. Nếu khâu chế tạo thân tàu đã có những bước tiến, thì các lĩnh vực như thiết kế, phần mềm chuyên ngành, AI, Digital Twin (bản sao số), robot công nghiệp, công nghệ tàu xanh và sản xuất thông minh vẫn còn khoảng cách so với các quốc gia dẫn đầu.

Sự tham gia của khu vực doanh nghiệp FDI vào quá trình nâng cao năng lực ngành đóng tàu trong nước cũng chưa tương xứng. Việt Nam cần nhiều hơn sản lượng và giá trị xuất khẩu; quan trọng là phải thúc đẩy chia sẻ tri thức, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp phụ trợ và hợp tác nghiên cứu với các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hợp tác để tạo bước phát triển mới

Trong bối cảnh xanh, số và thông minh trở thành xu thế chủ đạo của ngành hàng hải và đóng tàu thế giới, ông Đỗ Thành Hưng cho rằng hợp tác sẽ là chìa khóa quyết định sự phát triển của ngành trong những thập kỷ tới. Các doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu về giảm phát thải, phát triển tàu xanh, nhà máy đóng tàu thông minh (Smart Shipyard), AI, Digital Twin, tự động hóa, dữ liệu lớn, an ninh chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn ESG.

Tiềm năng chỉ có thể trở thành sức mạnh khi được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp FDI và các đối tác quốc tế cùng chia sẻ nguồn lực, tri thức và trách nhiệm phát triển.

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là ưu tiên hàng đầu bởi để đào tạo một thế hệ kỹ sư thiết kế đạt trình độ quốc tế, chuyên gia về AI, Digital Twin, robot công nghiệp, vật liệu mới, năng lượng xanh và đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề cần nhiều năm chuẩn bị.

“Cần xây dựng Chương trình phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hàng hải và đóng tàu; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các đối tác quốc tế; đào tạo theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; đồng thời có cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia giỏi trong và ngoài nước”, ông Hưng gợi ý.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tập trung vào AI, Digital Twin, Smart Shipyard, Internet vạn vật (IoT), robot công nghiệp, vật liệu mới, tàu xanh và tàu thông minh. Mục tiêu không chỉ là tiếp nhận công nghệ mà phải từng bước làm chủ thiết kế, công nghệ và dữ liệu của ngành.

Thứ ba, phát triển công nghiệp phụ trợ, ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất thép đóng tàu, động cơ, máy phát điện, hệ thống chân vịt, van, bơm, thiết bị boong, thiết bị điện - điện tử hàng hải, vật liệu mới và các sản phẩm cơ khí chính xác. Đồng thời, hình thành mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp đóng tàu và doanh nghiệp phụ trợ nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Thứ tư, tăng cường liên kết với các ngành kinh tế biển. Ngành đóng tàu cần được kết nối chặt chẽ với vận tải biển, logistics, cảng biển, dầu khí, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp và quốc phòng, an ninh. Đây vừa là những thị trường quan trọng, vừa tạo động lực đổi mới công nghệ và phát triển các dòng tàu chuyên dụng có giá trị gia tăng cao.

Thứ năm, hợp tác quốc tế phải hướng tới nâng cao năng lực nội sinh. Cần có cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp FDI tham gia sâu hơn vào chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, phát triển công nghiệp phụ trợ và xây dựng chuỗi cung ứng trong nước. Doanh nghiệp FDI cần trở thành một bộ phận của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đóng tàu Việt Nam, cùng chia sẻ trách nhiệm phát triển ngành.

Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện thể chế để thúc đẩy hợp tác, trong đó nghiên cứu cơ chế tổ chức lãnh đạo, điều hành tập trung, thống nhất ở tầm quốc gia đối với các hợp phần của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải, qua đó tổng hợp và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển ngành.

Ông Đỗ Thành Hưng cũng đề xuất nghiên cứu thành lập bộ phận tư vấn chiến lược về công nghiệp hàng hải và đóng tàu, quy tụ các chuyên gia trong nước và quốc tế để hỗ trợ cơ quan chức năng hoạch định chiến lược, hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện các chương trình phục hồi, phát triển ngành đóng tàu Việt Nam.

Theo vị chuyên gia, ba thập kỷ tới sẽ là giai đoạn bước ngoặt đối với ngành đóng tàu thế giới và Việt Nam. Nếu không chuyển đổi kịp thời, khoảng cách về công nghệ sẽ ngày càng lớn, năng lực cạnh tranh suy giảm và Việt Nam khó tận dụng đầy đủ những cơ hội từ sự phát triển của kinh tế biển, logistics, năng lượng ngoài khơi và thương mại quốc tế.

“Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng một ngành đóng tàu hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và trở thành trụ cột của hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia.

Đó không chỉ là mục tiêu phát triển của riêng ngành đóng tàu, mà còn là con đường quan trọng để phát triển kinh tế biển, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào giữa thế kỷ XXI”, Phó Chủ tịch VISIA Đỗ Thành Hưng nhấn mạnh.

Hoàng Hạnh

Tham khảo thêm
Hiện thực hoá khát vọng trở thành quốc gia biển mạnhHiện thực hoá khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh
Tham khảo thêm
Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnhXây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Tham khảo thêm
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnhNghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Tham khảo thêm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Đặt công nghiệp hàng hải đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnhTổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Đặt công nghiệp hàng hải đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh