Cuộc đua "giành" nhân tài chiến lược - Bài cuối: Từ "đào tạo đại trà" sang "đầu tư chiều sâu"

Admin
Với các chính sách được ban hành nhằm phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh kỳ vọng các chính sách mới sẽ chuyển từ tư duy hỗ trợ dàn trải sang đầu tư chiến lược.

Nhà trường "bắt tay" cùng doanh nghiệp

Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra những yêu cầu rất lớn đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trong đó, giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Dưới góc nhìn của cơ sở giáo dục, trao đổi với Người Đưa Tin về những thuận lợi, thách thức trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao, trao đổi với Người Đưa Tin, TS.Trần Ái Cầm - Hiệu trưởng Trường Đại học Intracom cho biết, Khoa Công nghệ của Trường đã tiên phong làm chủ kỷ nguyên vi mạch bán dẫn và AI. Với 10 chuyên ngành đột phá, Khoa Công nghệ tập trung đào tạo tinh hoa ở các ngách như: Trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật phần mềm, Robot, Khoa học dữ liệu và đặc biệt là Vi mạch bán dẫn.

Cuộc đua

TS.Trần Ái Cầm - Hiệu trưởng Trường Đại học Intracom.

Trong Chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045, nhà trường xác định rõ 3 định hướng trọng tâm trong lĩnh vực đào tạo. Thứ nhất là xây dựng các chương trình đạt chuẩn chất lượng; thứ hai là phát triển mô hình đào tạo gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, và thứ ba là đào tạo theo hướng tinh hoa.

Trên cơ sở 3 phân khúc đào tạo đã xác định, Trường Đại học Intracom định vị rõ vai trò là cơ sở giáo dục gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và phát triển theo định hướng đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, bên cạnh việc trang bị những kiến thức và năng lực nền tảng cần thiết cho người học, nhà trường đặc biệt chú trọng phát triển năng lực số và năng lực công nghệ. Đây được xem là những kỹ năng cốt lõi nhằm giúp sinh viên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo.

"Điều này đúng với xu hướng, xu thế ngày nay để sinh viên ra trường là có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc ngay. Do vậy, đầu tiên là phải thay đổi chương trình đào tạo và áp dụng phương pháp dạy và học tiên tiến", bà Trần Ái Cầm.

Cùng với đó, bà Trần Ái Cầm cho biết, hiện vẫn còn khoảng cách rất lớn giữa việc sinh viên được đào tạo lý thuyết và khi ra thực hành, làm việc. Do vậy, trong chương trình đào tạo của nhà trường, xác định tỉ lệ các sinh viên sẽ được trải nghiệm, được thực hành chiếm tỉ trọng 50%.

Chính điều đó đã tạo cho các sinh viên có được sự tự tin nhất định. Bà Cầm cho hay, ngay từ năm thứ nhất, các em sẽ bắt đầu được đi thực tập, trải nghiệm tại các doanh nghiệp, và thậm chí là thực tập có lương, từ đó giúp cho sinh viên khi làm việc thực thụ có thể tự tin và đáp ứng với yêu cầu của nhà tuyển dụng.

"Lợi thế của trường chính là có một hệ sinh thái doanh nghiệp. Và nhà trường xác định gắn kết với các doanh nghiệp để cùng đào tạo", hiệu trưởng Trường Đại học Intracom nhấn mạnh.

Trả lời báo chí, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho rằng, để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực lĩnh vực khoa học, công nghệ, cần tập trung và chú trọng nhiều hơn tới đào tạo sau đại học.

Cuộc đua

Cần cơ chế hỗ trợ mạnh để các trường đại học đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo những ngành then chốt như bán dẫn, AI...

Thực tế hiện nay cho thấy khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động trong các lĩnh vực công nghệ và chuyển đổi số vẫn còn khá lớn, để giải quyết "điểm nghẽn" này Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn chia sẻ, Nhà nước phải đầu tư đi trước một bước. 

Điều đó có nghĩa là cần cơ chế hỗ trợ mạnh để các trường đại học đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo và tuyển sinh tập trung vào những ngành then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao,... 

Bên cạnh đó, cũng cần có chính sách hỗ trợ người học nhằm thu hút nhiều người học, đặc biệt là người giỏi theo học các ngành này. Đây là giải pháp cần phải triển khai.

Nói về Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, Bộ trưởng cho rằng đây là một chính sách mang tính đột phá, không chỉ góp phần thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học, mà còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng để thu hút người giỏi.

"Chúng tôi tin tưởng rằng, khi Nghị định được triển khai, không chỉ số lượng mà chất lượng đào tạo ở các ngành này cũng sẽ được nâng lên đáng kể, qua đó từng bước đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, dẫn dắt việc thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ vào những khâu, những chuỗi tạo giá trị gia tăng lớn như nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo", Bộ trưởng bày tỏ.

Tạo ra một hành trình phát triển nhân tài

Để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) nhìn nhận, điều Việt Nam còn thiếu nhất hiện nay không phải là người giỏi, cũng không phải là số lượng trường đại học hay viện nghiên cứu, mà là khả năng tổ chức và huy động nguồn lực khoa học công nghệ vào những mục tiêu chiến lược của quốc gia.

Theo bà, muốn có công nghệ lõi thì trước hết phải có những "bài toán lớn". Không có quốc gia nào tạo ra ngành công nghiệp bán dẫn chỉ bằng các đề tài nghiên cứu riêng lẻ. Không có doanh nghiệp công nghệ hàng đầu nào hình thành chỉ từ các dự án ngắn hạn kéo dài vài năm. Công nghệ lõi thường được sinh ra từ nhu cầu giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia và thị trường. 

"Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định được những lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam có nhu cầu thực sự, có thị trường đủ lớn và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu", bà Tú Anh nói.

Cuộc đua

Xác định những lĩnh vực chiến lược, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Một vấn đề khác cần được nhìn nhận thẳng thắn là chúng ta đang có xu hướng coi đào tạo nhân lực là mục tiêu, trong khi thực chất đó chỉ là phương tiện. Mục tiêu cuối cùng không phải là đào tạo được bao nhiêu cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ, mà là tạo ra được bao nhiêu công nghệ mới, bao nhiêu bằng sáng chế có giá trị, bao nhiêu doanh nghiệp công nghệ có sức cạnh tranh quốc tế. 

Nếu chỉ tập trung vào đầu vào mà chưa quan tâm đúng mức đến đầu ra thì rất dễ rơi vào tình trạng số lượng tăng nhưng chất lượng và hiệu quả chưa tương xứng.

Đồng thời, theo đại biểu cần đặc biệt chú ý đến cơ chế sử dụng nhân tài. Nhiều quốc gia thành công không phải vì họ có nhiều người giỏi hơn, mà vì họ tạo ra cơ chế để người giỏi tập trung vào chuyên môn thay vì dành quá nhiều thời gian cho các thủ tục hành chính hoặc các yêu cầu mang tính hình thức. 

"Trong khoa học công nghệ, tự do học thuật, quyền tự chủ nghiên cứu và cơ chế đánh giá dựa trên kết quả thực chất có ý nghĩa rất quan trọng", đại biểu nêu và lưu ý cần xây dựng văn hóa liêm chính khoa học. 

Cuộc đua

ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Ảnh: Media Quốc hội).

Theo đại biểu, để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, cần chuyển từ tư duy "đào tạo đại trà" sang tư duy "phát hiện, tuyển chọn và đầu tư chiều sâu" cho những cá nhân và nhóm nghiên cứu xuất sắc. 

"Trong điều kiện nguồn lực có hạn, việc đầu tư bình quân cho tất cả thường khó tạo ra đột phá", đại biểu nói và cho rằng cần có những trung tâm xuất sắc, những phòng thí nghiệm trọng điểm và những nhóm nghiên cứu mạnh được đầu tư ở mức đủ lớn để cạnh tranh ở trình độ quốc tế.

Đại biểu đoàn Lâm Đồng cho rằng trong giai đoạn tới, thước đo thành công của chính sách khoa học công nghệ không nên chỉ là số lượng nhà khoa học hay số lượng công trình nghiên cứu, mà phải là năng lực làm chủ công nghệ, khả năng tạo ra doanh nghiệp công nghệ lớn và mức độ đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng năng suất quốc gia. 

Với các chính sách được ban hành nhằm phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đại biểu Tú Anh kỳ vọng các chính sách mới sẽ chuyển từ tư duy hỗ trợ dàn trải sang đầu tư chiến lược.

Phải quy định rõ cơ chế bảo vệ nhà khoa học dám nghĩ, dám làm

Đại biểu cũng cho rằng cần tránh tư duy bình quân trong phát triển nhân lực chất lượng cao. 

Bà nêu dẫn chứng trong đầu tư công, nếu mỗi dự án đều bị cắt giảm 10-20% thì cuối cùng có thể không dự án nào hoàn thành trọn vẹn. Phát triển nhân tài cũng tương tự. Nếu nguồn lực được chia đều cho tất cả thì rất dễ dẫn đến tình trạng ai cũng được hỗ trợ một phần nhưng không hình thành được những chuyên gia thực sự xuất sắc trong các lĩnh vực chiến lược.

Đại biểu kỳ vọng các chính sách mới sẽ hướng đến phát hiện và đầu tư mạnh cho những cá nhân có tiềm năng đặc biệt, những nhóm nghiên cứu xuất sắc và những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới hay công nghệ lượng tử.

Quan trọng hơn, bà kỳ vọng chính sách không chỉ dừng lại ở việc cấp học bổng hay hỗ trợ đào tạo mà sẽ tạo ra cả một hành trình phát triển nhân tài: từ phát hiện, đào tạo, nghiên cứu, khởi nghiệp công nghệ đến thương mại hóa sản phẩm. 

Bởi mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ, mà là đất nước có thêm bao nhiêu công nghệ lõi, bao nhiêu doanh nghiệp công nghệ mạnh và bao nhiêu nhà khoa học có khả năng cạnh tranh ở trình độ quốc tế. Đó mới là nền tảng bền vững để Việt Nam vươn lên trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu.