
Các đại biểu trao đổi giải pháp tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản Vĩnh Long bền vững - Ảnh: VGP/LS
Ngày 31/7, tại phường An Hội, UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức Hội nghị “Vĩnh Long - Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững”. Hai phiên tọa đàm tập trung nhận diện điểm nghẽn và đề xuất chính sách tài chính cho xuất khẩu nông sản.
Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn cho biết tỉnh đã tận dụng nguồn lực từ Trung ương, địa phương, tín dụng và các dự án xã hội hóa để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Vĩnh Long cũng nhận được sự đồng hành của các bộ trong phân bổ nguồn lực, xúc tiến thương mại, nâng cao chất lượng giống và triển khai Đề án lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Lợi thế lớn, dư địa còn rộng
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Vĩnh Long có không gian phát triển rộng hơn, cùng lợi thế về vùng nguyên liệu, sông ngòi, logistics đường thủy và nhiều ngành hàng chủ lực.
Tỉnh Vĩnh Long đã hình thành các vùng sản xuất tập trung đối với lúa chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, dừa hữu cơ và thủy sản; mở rộng liên kết sản xuất - tiêu thụ, áp dụng VietGAP, GlobalGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, tăng cường truy xuất nguồn gốc. Diện tích thực hiện Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt trên 8.224 ha, vượt kế hoạch.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 450 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản. Ngành chế biến chiếm khoảng 20-25% giá trị sản xuất công nghiệp; mức cơ giới hóa trong bảo quản, chế biến đạt khoảng 70-80%, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản đạt 433,67 triệu USD, tăng 12,09% so với năm 2024. Sáu tháng đầu năm 2026 đạt 233,96 triệu USD, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm 2025; mục tiêu cả năm khoảng 483 triệu USD. Xuất khẩu của Vĩnh Long trong sáu tháng đầu năm đứng thứ 19 trong 34 tỉnh, thành và đứng thứ ba trong khu vực.
Điểm nghẽn nằm trong toàn chuỗi
Báo cáo của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho thấy, sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên các hộ quy mô nhỏ; liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa bền vững. Nhiều vùng nguyên liệu chưa được tổ chức theo yêu cầu thị trường xuất khẩu; tỷ lệ áp dụng VietGAP, GlobalGAP và tiêu chuẩn hữu cơ chưa cao.
Điều này làm tăng chi phí kiểm soát chất lượng, gây khó khăn khi doanh nghiệp phải đáp ứng đơn hàng lớn, ổn định về sản lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu liên tục nâng yêu cầu về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc.
Áp lực còn đến từ xu hướng tiêu dùng xanh, các quy định về giảm phát thải carbon, sản xuất tuần hoàn và trách nhiệm môi trường. Nếu không thích ứng, nhiều ngành hàng có nguy cơ thu hẹp thị phần hoặc mất lợi thế cạnh tranh.
Chi phí logistics, kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch còn cao; hạ tầng phục vụ xuất khẩu chưa đáp ứng các chuỗi cung ứng quy mô lớn. Tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế còn lớn, khiến giá trị gia tăng thấp.
Chính sách vì thế cần chuyển từ hỗ trợ từng khâu sang hỗ trợ toàn chuỗi giá trị; từ dàn trải sang tập trung vào vùng nguyên liệu đạt chuẩn, chế biến sâu, logistics, chuyển đổi số, tín dụng xanh và thương hiệu.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn phát biểu khai mạc hội nghị - Ảnh: VGP/LS
Minh bạch trở thành năng lực cạnh tranh
Một thông điệp đáng chú ý tại hội nghị là niềm tin trong thương mại toàn cầu không còn chỉ được tạo ra bằng cam kết, mà phải được chứng minh bằng dữ liệu. Theo tham luận của đại diện Ban Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, nhiều lô hàng nông sản gặp trở ngại không hẳn do chất lượng kém, mà do sai mã vùng trồng hoặc không truy xuất được dữ liệu minh bạch về nguồn gốc.
Thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu nguồn gốc được xác thực, vùng nguyên liệu định vị chính xác, quá trình sản xuất có nhật ký điện tử, phát thải carbon được theo dõi và chuỗi cung ứng có thể kiểm chứng. Doanh nghiệp không chỉ bán nông sản, mà phải bán nông sản cùng bằng chứng đi kèm.
Hộ chiếu sản phẩm số được đề xuất để chứng minh nguồn gốc, quá trình sản xuất, tiêu chuẩn và trách nhiệm môi trường của sản phẩm.
Cách tiếp cận này phù hợp với kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số đến năm 2030 của Vĩnh Long. Tỉnh đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 5.000 doanh nghiệp, trong đó khoảng 3.000 doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số và trí tuệ nhân tạo trong quản trị, sản xuất, kinh doanh. Chuyển đổi số còn tạo bằng chứng số giúp nông sản đáp ứng yêu cầu thị trường.
Chính sách tài chính phải vào đúng mắt xích
Tỉnh Vĩnh Long cho rằng chính sách tài chính cần chuyển mạnh từ hỗ trợ sản xuất sang hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị. Phần lớn doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính hạn chế, khó tiếp cận vốn trung và dài hạn để đầu tư công nghệ, chế biến sâu, mở rộng thị trường.
Việc triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP còn gặp khó khăn do chưa được bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách Trung ương. Tỉnh kiến nghị sớm ban hành nghị định thay thế theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng mức hỗ trợ và bố trí nguồn ngân sách Trung ương ổn định.
Đồng thời, tỉnh Vĩnh Long cũng đề nghị nghiên cứu tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư sản xuất hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, chế biến sâu, xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế và truy xuất nguồn gốc.
Một nhóm giải pháp khác là huy động nguồn lực phát triển logistics, kho lạnh, kho ngoại quan, trung tâm kiểm định chất lượng, trung tâm đóng gói. Tỉnh đề nghị ưu đãi thuế, khấu hao tài sản, hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số; khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và blockchain trong quản trị chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc.
Tỉnh đồng thời kiến nghị ưu tiên nguồn lực cho xúc tiến thương mại, thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, mã số vùng trồng và tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính cũng cần được hoàn thiện để địa phương chủ động hỗ trợ các chuỗi ngành hàng chủ lực.
Theo đó, Vĩnh Long xác định mục tiêu không chỉ gia tăng sản lượng xuất khẩu, mà quan trọng hơn là xây dựng các chuỗi giá trị nông sản hiện đại, xanh, bền vững; phát triển chế biến, logistics, thương hiệu và chuyển đổi số để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi chính sách tài chính đi đúng vào những mắt xích này, nguồn lực không chỉ hỗ trợ một vụ mùa hay một doanh nghiệp, mà tạo nền tảng dài hạn cho năng lực cạnh tranh của nông sản Vĩnh Long. Mỗi sản phẩm bước ra thế giới không chỉ mang theo chất lượng và hương vị vùng đất, mà còn mang theo dữ liệu, uy tín và giá trị được chứng minh.
Lê Sơn